Quy định của pháp luật về việc xin xác nhận tình trạng hôn nhân đối với trường hợp công dân cư trú ở nhiều nơi
 Thứ sáu, 09 Tháng 4 2021 09:59 - 667 Lượt xem
In

Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (XNTTHN) là văn bản do cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền cấp cho cá nhân nhằm xác nhận về tình trạng hôn nhân của người đó, để sử dụng với nhiều mục đích, cụ thể như: Đăng ký kết hôn; mua bán bất động sản khi muốn chứng minh đấy là tài sản riêng; bổ sung hồ sơ của người nhận con nuôi (theo quy định tại khoản 3 Điều 17 Luật Nuôi con nuôi 2010); XNTTHN đã có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn hoặc người vợ hoặc chồng đã chết; để sử dụng vào mục đích khác như mua bán, giao dịch bất động sản...
Về thẩm quyền cấp Giấy XNTTHN, tại Điều 21 Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch (Nghị định 123/2015/NĐ-CP) quy định: "Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã, nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện việc cấp Giấy XNTTHN. Trường hợp công dân Việt Nam không có nơi thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì UBND cấp xã, nơi người đó đăng ký tạm trú cấp Giấy XNTTHN..."
Đối với trường hợp công dân có thời gian cư trú ở nhiều nơi khác nhau thì việc cấp giấy XNTTHN được pháp luật quy định cụ thể như sau:
Theo quy định tại khoản 4 Điều 22 Nghị định 123/2015/NĐ-CP: "Trường hợp người yêu cầu XNTTHN đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau, người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp người đó không chứng minh được thì công chức Tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã có văn bản đề nghị UBND cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó."
Trường hợp công dân Việt Nam đã có thời gian cư trú ở nước ngoài, nay về thường trú tại Việt Nam, hoặc các trường hợp người yêu cầu đã cư trú tại nhiều nơi, trong đó, có thời gian công tác, học tập, lao động có thời hạn ở nước ngoài. Theo đó, người yêu cầu phải nộp giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của mình trong thời gian cư trú tại nước ngoài do Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài cấp (được quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định 123/2015/NĐ-CP).
Trường hợp người đó không chứng minh được tình trạng hôn nhân trong thời gian cư trú ở nước ngoài thì UBND cấp xã có văn bản đề nghị Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao đề nghị xác minh tình trạng hôn nhân của người đó. Quá thời hạn xác minh mà không nhận được văn bản trả lời hoặc Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao từ chối xác minh thì UBND cấp xã cho phép người yêu cầu lập văn bản cam đoan về nội dung cần xác minh nêu trên.
Ngoài ra, tại Điều 4 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, quy định về việc giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch khi không nhận được kết quả xác minh như sau: Trường hợp việc đăng ký hộ tịch cần xác minh theo quy định tại khoản 4 Điều 22, khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 27 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và khoản 4 Điều 9, khoản 1 Điều 12 Thông tư này, sau thời hạn 20 ngày kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu xác minh mà không nhận được văn bản trả lời, thì cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp tục giải quyết hồ sơ theo quy định. Đối với trường hợp xác minh về tình trạng hôn nhân thì cho phép người yêu cầu cấp Giấy XNTTHN có văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình theo quy định tại Điều 5 Thông tư.
Cụ thể: Trường hợp cho phép người yêu cầu đăng ký hộ tịch lập văn bản cam đoan về nội dung yêu cầu đăng ký hộ tịch thì cơ quan đăng ký hộ tịch phải giải thích rõ cho người lập văn bản cam đoan về trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan không đúng sự thật. Cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch, nếu có cơ sở xác định nội dung cam đoan không đúng sự thật.
Tóm lại, người yêu cầu cấp Giấy XNTTHN mà đã từng cư trú tại nhiều nơi có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Nếu không chứng minh được thì công chức Tư pháp – Hộ tịch báo cáo UBND cấp xã có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền (UBND nơi người đó từng đăng ký thường trú trước đây hoặc Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao trong trường hợp từng cư trú ở nước ngoài) tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của họ. Sau thời hạn 20 ngày kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu xác minh mà không nhận được văn bản trả lời, thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho phép người yêu cầu cấp Giấy XNTTHN có văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình, giải thích cho công dân hiểu rõ về trách nhiệm và hệ quả của việc cam đoan không đúng sự thật theo quy định đã phân tích ở trên./.

Nhật Mai (sotuphapqnam.gov.vn)


Tin mới: