Quyền tự do tôn giáo trong hệ thống pháp luật Việt Nam

1. Nền tảng quyền tự do tôn giáo trong pháp luật quốc tế và Việt Nam 1.1. Quyền tự do tôn giáo quy định trong pháp luật quốc tế Thuật ngữ “tôn giáo” trong tiếng Anh là “religion”, nguồn gốc của từ tiếng Latinh có nghĩa là “relegare” hoặc “relegere”. Từ “relegare” biểu thị cho “buộc lại với nhau”, “liên kết với nhau”, hàm chứa ý nghĩa “đoàn kết” hoặc “liên kết hữu nghị”; từ “relegere” biểu thị “luyện tập lặp đi lặp lại”, “thực hành khắc khổ”, nói chung là chỉ đặc điểm lặp đi lặp lại của nghi thức tôn giáo.
1. Nền tảng quyền tự do tôn giáo trong pháp luật quốc tế và Việt Nam
1.1. Quyền tự do tôn giáo quy định trong pháp luật quốc tế
Thuật ngữ “tôn giáo” trong tiếng Anh là “religion”, nguồn gốc của từ tiếng Latinh có nghĩa là “relegare” hoặc “relegere”. Từ “relegare” biểu thị cho “buộc lại với nhau”, “liên kết với nhau”, hàm chứa ý nghĩa “đoàn kết” hoặc “liên kết hữu nghị”; từ “relegere” biểu thị “luyện tập lặp đi lặp lại”, “thực hành khắc khổ”, nói chung là chỉ đặc điểm lặp đi lặp lại của nghi thức tôn giáo.
Còn theo nhà nghiên cứu tôn giáo Việt Nam Đặng Nghiêm Vạn, thuật ngữ “tôn giáo” ngày nay, tiếng Latinh có gốc từ thuật ngữ “legere”, tiếng Anh là “religion”, có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên. Nội hàm của thuật ngữ này cũng có một quá trình biến đổi. Hiện nay, có nhiều quan điểm và cách định nghĩa khác nhau về tôn giáo. Tuy nhiên có thể khẳng định rằng, tôn giáo có nguồn gốc xã hội, nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc tâm lý.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự và chính trị, được ghi nhận trong pháp luật quốc tế về quyền con người cũng như trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới. Liên Hợp Quốc đề cao và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Tuyên ngôn về nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền này trong hệ thống pháp luật của mình. Trong Hiến chương của Liên Hợp Quốc năm 1945 tại phần mở đầu, đã tuyên bố: “Khẳng định một lần nữa sự tin tưởng vào những quyền cơ bản, nhân phẩm và giá trị của con người, vào quyền bình đẳng giữa nam và nữ...”. Khoản 3, Điều 1 (Chương 1) đã đề cập đến nội dung quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hướng khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền của con người và các tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo.
Còn trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 (the Universal Declaration of Human Rights - UDHR) được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết số 217A (III) ngày 10/12/1948, gồm: Lời nói đầu và 30 điều. Lần đầu tiên, Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc có một văn bản tuyên ngôn chính thức về nhân quyền, tạo cơ sở để Liên Hợp Quốc cụ thể hóa thành các công ước mang tính chất pháp lý bắt buộc đối với các quốc gia thành viên trong việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người nói chung, các quyền về dân sự, chính trị nói riêng trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (the International Covenant on Civil and Political Rights - ICCPR) được thông qua và để ngỏ cho các quốc gia ký, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc số 2200 (XXI), ngày 16/12/1966, có hiệu lực từ ngày 23/3/1976. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được quy định với bốn nội dung cụ thể, trong đó nội dung thứ nhất quy định gần giống với Điều 18 của bản UDH [1]. Cho đến nay, nhìn tổng quát, đối với quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được các văn bản pháp lý quốc tế quy định: (1) Tuyên bố sự tồn tại của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; (2) Mọi người được thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo một cách công khai một mình hay trong cộng đồng; (3) Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo.
1.2. Quyền tự do tôn giáo quy định trong pháp luật Việt Nam
Ở Việt Nam, trong điều kiện đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay, việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, tập hợp được quần chúng nhân dân trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Quyền tự do tôn giáo của công dân được quy định rõ trong Hiến pháp, Luật và rất nhiều các văn bản pháp luật liên ngành. Đó là công cụ để Đảng và Nhà nước ta thực hiện quyền quản lý kinh tế - xã hội, văn hóa, giữ vững an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội; là phương tiện để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm công bằng xã hội. Nhìn lại hệ thống pháp luật liên quan đến tôn giáo của nước ta qua các thời kỳ, có thể thấy sự phát triển không ngừng và ngày càng hoàn thiện hơn của các tôn giáo. Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (năm 1945) đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tôn giáo và hoạt động tôn giáo; các văn bản đó đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống pháp luật của Nhà nước. Thực tiễn trên thế giới và Việt Nam cho thấy, không có hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo nào đứng ngoài pháp luật của Nhà nước.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trước hết được ghi nhận tại Điều 70, Hiến pháp năm 1992, trong đó khẳng định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Quy định này của Hiến pháp được cụ thể hóa trong Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy”.
Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân: “Cá nhân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, hoặc lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định: Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo,... Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật.
Bộ luật Hình sự quy định về tội phá hoại chính sách đoàn kết trong đó có hành vi “gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với các tổ chức xã hội”, thì bị phạt tù từ 5 năm đến 15 năm hoặc “người nào có hành vi cản trở công dân thực hiện quyền hội họp, quyền lập hội phù hợp với lợi ích của Nhà nước và của nhân dân, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm” [2]. 
 
2. Quyền tự do tôn giáo quy định trong hệ thống pháp luật Việt Nam từ lịch sử lập hiến đến nay
2.1. Quy định về quyền tự do tôn giáo giai đoạn 1945 - 1954
Trong sáu vấn đề cấp bách tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Thực dân và phong kiến thực hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương để thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố Tín ngưỡng tự do và Lương Giáo đoàn kết”.
Giai đoạn này Nhà nước ta còn non trẻ, tuy nhiên chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm khẳng định tầm quan trọng của tôn giáo ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ cách mạng lâm thời (03/9/1945). Những văn bản pháp luật đầu tiên phản ánh rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước về tôn giáo như: Sắc lệnh số 35/SL ngày 20/9/1945 về việc tôn trọng và không được xâm phạm chùa, lăng tẩm của tôn giáo; Sắc lệnh số 65/SL ngày 23/11/1945 về việc bảo tồn cổ di tích và giao nhiệm vụ bảo tồn tất cả cổ di tích trong toàn cõi Việt Nam cho Đông Dương Bác cổ Học viện; Hiến pháp năm 1946 tại Điều 10 Chương 2 nhấn mạnh: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận; tự do xuất bản; tự do tổ chức và hội họp; tự do tín ngưỡng; tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Sắc lệnh số 22/SL ngày 18/12/1946 ấn định các ngày tết, kỷ niệm lịch sử và tôn giáo; Sắc lệnh năm 1949 về thuế đất và hoa màu cho các tôn giáo; Nghị định số 315/TTg ngày 04/10/1953 về chính sách đối với tôn giáo...
Sắc lệnh số 234/SL, ngày 14/06/1955 của Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành được đánh giá là một trong những Sắc lệnh tiến bộ nhất về vấn đề tôn giáo, mà tinh thần này được đưa vào trong Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2013. Điều 1 Sắc lệnh 234 khẳng định: “Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng, quyền theo hoặc không theo bất cứ tôn giáo nào”; Điều 15 thừa nhận: “Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa coi việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là một quyền lợi của nhân dân và luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện nó” [3].
 2.2. Quy định về quyền tự do tôn giáo giai đoạn từ 1954 - 1975
Trong giai đoạn này, tình hình tôn giáo ở hai miền Nam, Bắc có sự khác nhau: Quan điểm, chính sách về tôn giáo tiếp tục được khẳng định và có sự bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp, ngày 7/9/1954, Bộ Chính trị ra Nghị quyết “Về những vấn đề cấp bách trong tình hình mới”, khẳng định “chính sách tôn giáo đúng hay không là ở chỗ có đoàn kết tập hợp được giáo dân hay không. Do đó, Đảng chủ trương tín ngưỡng tự do, không can thiệp vào các hoạt động tôn giáo, không xâm phạm cơ sở vật chất như đền, chùa, nơi thờ tự...”. Sau đó chưa đầy 20 ngày, Đảng ra liên tiếp hai Chỉ thị: Ngày 21/9/1954, Ban Bí thư ra Chỉ thị 94-CT/TW về thi hành chính sách tôn giáo ở vùng mới giải phóng; ngày 23/8/1956, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 45/CT- TW về việc đẩy mạnh công tác vận động người dân không di cư vào Nam hoặc gây ra những vụ việc bất lợi [4].
Quốc hội Khóa I đã đưa ra các nguyên tắc về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo tại kỳ họp thứ tư ngày 20/3/1955. Hiến pháp năm 1959 tại Điều 26 Chương 3 quy định: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có các quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”. Đại hội III tháng 9/1960 của Đảng Lao động Việt Nam đã nhấn mạnh về vấn đề tôn giáo phải vừa đảm bảo tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân, vừa chống địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng ở cả hai miền Nam, Bắc.
 
2.3. Quy định về quyền tự do tôn giáo giai đoạn từ 1975 - 1986
Đây là giai đoạn đất nước hoàn toàn thống nhất, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976) một lần nữa khẳng định chính sách nhất quán tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân.
Nhằm cụ thể hóa quan điểm trên của Đảng, Nghị quyết số 297-CP ngày 11/11/1977 về một số chính sách đối với tôn giáo của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã được ban hành, dựa trên sự kế thừa Sắc lệnh số 234/SL ngày 14/6/1955 của Chính phủ về vấn đề tôn giáo và các văn bản pháp luật ban hành trước đó, đồng thời bổ sung một số nội dung mới về hoạt động tôn giáo của tín đồ và nhà tu hành; quy định về nơi thờ cúng của các tôn giáo; quy định về việc đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo; quy định về cơ sở kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội của các tôn giáo; quy định về tài liệu và đồ dùng việc đạo của các tôn giáo; quy định về quan hệ giữa các tổ chức tôn giáo trong nước với các tổ chức tôn giáo quốc tế [5].
Hiến pháp năm 1980 tại Điều 68 Chương 5 quy định: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Ngoài ra còn có Hiến pháp năm 1980 và một loạt các văn bản khác cũng có các quy định liên quan đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
2.4. Quy định về quyền tự do tôn giáo giai đoạn từ 1986 - 2004 (trước khi có Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004)
Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI “Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới” được cụ thể hóa bằng Nghị định số 69/HĐBT ngày 21/3/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về các hoạt động tôn giáo. Đây đã từng là cơ sở pháp lý quan trọng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân đồng thời là cơ sở để Nhà nước thực hiện sự quản lý đối với các hoạt động tôn giáo thời kỳ này. Hiến pháp năm 1992 tại Điều 70 Chương 5 nêu rõ: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật; những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ; không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước” [6].
Vấn đề tự do tôn giáo tiếp tục được nêu tại các văn bản như: Nghị quyết số 25/NQ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX ngày 12/3/2003 về công tác tôn giáo; Nghị định số 26/1999/NĐ-CP ngày 19/4/1999 của Chính phủ về các hoạt động tôn giáo; Thông tư số 01/1999/TT- TGCP, ngày 16/6/1999 hướng dẫn thi hành Nghị định số 26/NĐ ngày 19/4/1999 về các hoạt động tôn giáo; Thông tư số 03/1999/TT- TGCP ngày 16/6/1999 của Ban Tôn giáo Chính phủ về sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài đang cư trú hợp pháp tại Việt Nam; Chỉ thị số 37/CT ngày 02/7/1998 của Bộ Chính trị về công tác tôn giáo trong tình hình mới [8].
Trong pháp luật Việt Nam, chế định quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của quốc gia ban hành. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trước hết được ghi nhận tại Điều 70 Hiến pháp năm 1992, trong đó khẳng định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước” [9].

2.5. Quy định về quyền tự do tôn giáo giai đoạn từ năm 2004 đến nay (sau khi có Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004)
Ngày 18/6/2004, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp thứ 19 khóa XI đã thông qua Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo. Ngày 29/6/2004, Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố, Pháp lệnh đã nêu rõ: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy” (Điều 1) [10]. Ðây là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh trực tiếp lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo kể từ sau Sắc lệnh số 234/SL ngày 14/6/1955 về vấn đề tôn giáo do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành. Pháp lệnh đã thể chế hóa đường lối, chủ trương chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo của Ðảng và Nhà nước ta, nhằm tạo cơ sở pháp lý bảo đảm cho công dân thực hiện quyền cơ bản về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực này. Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo ra đời không chỉ làm cho đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta yên tâm, phấn khởi, mà còn là lời tuyên bố với bạn bè năm châu, với quốc tế về tự do tôn giáo ở Việt Nam, qua đó củng cố uy tín của Việt Nam trên quốc tế, đẩy lùi những mưu toan lợi dụng tôn giáo để chống phá Nhà nước ta.
Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đó, bên cạnh các quy định trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật chuyên biệt, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn được cụ thể hóa trong nhiều bộ luật, luật quan trọng khác của Nhà nước Việt Nam như: Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân như sau: “Cá nhân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, hoặc lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” [11].
Ngày 01/3/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/2005/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo. Tiếp theo đó là Nghị định số 92/2012NĐ/CP  ngày 08/11/2012  quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo. Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo ra đời một lần nữa khẳng định chính sách nhất quán của Nhà nước ta đối với tôn giáo. So với các văn bản quy phạm pháp luật trước đây, Pháp lệnh và Nghị định số 22/2005/NĐ-CP, Nghị định số 92/2012/NĐ/CP đã thể hiện tinh thần cởi mở, thông thoáng trong cách ứng xử   với các tôn giáo.
Nghị định số 22/2005/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 01/03/2005 hướng dẫn thực hiện một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo. Nghị định đã hướng dẫn, cụ thể hóa một số nội dung cơ bản của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, trước những thay đổi của cuộc sống, một số quy định trong Nghị định số 22/2005/NĐ-CP đã bộc lộ bất cập; trái với quy định của Pháp lệnh; một số vấn đề chưa được hướng dẫn trong nội dung của Nghị định này. Những vấn đề bất cập nêu trên về cơ bản đã được sửa đổi, bổ sung trong Nghị định số 92/2012/NĐ-CP của Chính phủ.
Nghị định số 92/2012/NĐ-CP đã xây dựng mục 8 gồm bốn điều từ Điều 37 đến Điều 41 quy định các vấn đề liên quan đến yếu tố nước ngoài: Việc mời tổ chức, cá nhân là người nước ngoài vào Việt Nam; việc tham gia hoạt động tôn giáo, khoá đào tạo tôn giáo ở nước ngoài; việc giảng đạo của chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài tại Việt Nam; sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam; việc xuất cảnh, nhập cảnh liên quan đến tôn giáo.
Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 được thông qua tại kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa XIII đã có nhiều nội dung mới được bổ sung. Nổi bật là bổ sung các quy định về quyền con người; trong đó, đã khẳng định rõ hơn việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Điều 16 của Hiến pháp nêu rõ: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Điều 24 khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Hiến pháp còn xác định rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo đảm thực hiện quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Điều 2 xác định: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Chương VII về Chính phủ và Chương VIII về Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, đều thể hiện rõ trách nhiệm bảo vệ quyền công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Nghĩa là, bộ máy Nhà nước được lập ra để bảo vệ quyền con người.
Hiến pháp là đạo luật gốc là văn bản pháp lý - chính trị đặc biệt quan trọng. Hiến pháp cùng với hệ thống pháp luật thể chế hóa Cương lĩnh, quan điểm của Đảng, trong đó có bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Về công tác tôn giáo” đã xác định rõ nội dung, giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Đảng ta xác định: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc” [12].
Ngoài ra, trên cơ sở nguyên tắc hiến định, toàn bộ hệ thống pháp luật quốc gia thể hiện các quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, trong một số văn bản pháp luật khác như: Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg ngày 04/2/2005 của Thủ tướng Chính phủ về một số công tác đối với đạo Tin Lành; Chỉ thị số 1940/CT- TTg ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà đất liên quan đến tôn giáo; Thông tư số 01/2013/TT-BNV ngày 25/3/2013 của Bộ Nội vụ “Ban hành và hướng dẫn sử dụng biểu mẫu và thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo”. Bên cạnh đó, Quốc hội đã thông qua nhiều đạo luật, Nghị quyết điều chỉnh các mối quan hệ nảy sinh trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Giáo dục…
Ngày 18/11/2016 Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo số 02/2016/QH14 được kỳ họp thứ 10 - Khóa XIII của Quốc hội thảo luận và thông qua tại kỳ họp thứ hai khóa XIV, nội dung Luật ban hành với 9 chương, 8 mục và 68 điều quy định rõ về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; tổ chức tôn giáo; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo, áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm và thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo(4). Luật quy định cụ thể trách nhiệm, thẩm quyền của Chính phủ, bộ, ngành, Ủy ban nhân dân, cơ quan quản lý Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo các cấp trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong việc tập hợp đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không có tín ngưỡng, tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh đó, Luật cũng có các quy định về nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (2016) chứa đựng nhiều nội dung rất mới và sâu sắc như:
Một là, mở rộng phạm vi chủ thể có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: Từ “công dân” thành “mọi người”, thể hiện đúng bản chất quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền con người theo tinh thần Hiến pháp năm 2013. Tại Điều 6 nêu rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào (khoản 1). Người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo (khoản 5)”.
Hai là, bổ sung một chương về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phản ánh rõ hơn phạm vi điều chỉnh của Luật cũng như thể hiện một cách cơ bản nhất chính sách của Nhà nước trong việc tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người.
Ba là, đăng ký sinh hoạt tôn giáo: Nếu trước đây đăng ký sinh hoạt tôn giáo được xem là một mốc khởi điểm để bắt đầu hình thành một tổ chức tôn giáo thì nay Luật chỉ xem sinh hoạt tôn giáo nhằm thỏa mãn nhu cầu tôn giáo của người theo tôn giáo nhưng chưa có tổ chức tôn giáo được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và đăng ký sinh hoạt tôn giáo không xem là một điều kiện để hình thành tổ chức tôn giáo như quy định hiện hành.
Bốn là, một số nội dung thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ như: công nhận tổ chức tôn giáo; thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc; thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo đã được thay đổi theo hướng giao cơ quan quản lý Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ và trả lời tổ chức tôn giáo.
Năm là, bỏ một số từ ngữ đã được sử dụng tại Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo như: tổ chức tôn giáo cơ sở, hội đoàn, dòng tu. Bổ sung khái niệm tổ chức tôn giáo trực thuộc, coi tổ chức tôn giáo cơ sở, hội đoàn, dòng tu là tổ chức tôn giáo trực thuộc.
Sáu là, về trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo: bổ sung, làm mới các quy định liên quan trường đào tạo tôn giáo, bao gồm từ điều kiện thành lập, thẩm quyền chấp thuận đến các nội dung liên quan quản lý trường đào tạo.
Bảy là, bổ sung nội dung phong phẩm, bổ nhiệm người có quốc tịch nước ngoài hoạt động cho tổ chức tôn giáo ở Việt Nam. Trong xu thế hội nhập và giao lưu quốc tế hiện nay, nhiều tổ chức, cá nhân nước ngoài đến Việt Nam làm việc, sinh sống, trong đó có nhiều người là tín đồ các tổ chức tôn giáo nước ngoài. Vì thế, người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam có quyền: Sinh hoạt tôn giáo, tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; sử dụng địa điểm hợp pháp để sinh hoạt tôn giáo tập trung; mời chức sắc, chức việc, nhà tu hành thực hiện các lễ nghi tôn giáo, giảng đạo; vào tu tại cơ sở tôn giáo, vào học tại cơ sở đào tạo tôn giáo hoặc lớp bồi dưỡng về tôn giáo của tổ chức tôn giáo ở Việt Nam; mang theo xuất bản phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo để phục vụ nhu cầu sinh hoạt tôn giáo theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Tám là, đăng ký hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo hằng năm được thay đổi theo hướng chỉ đăng ký, thông báo lần đầu với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, những năm tiếp theo nếu có phát sinh các hoạt động ngoài chương trình đăng ký mới đăng ký, thông báo bổ sung.
Chín là, hoạt động của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, đào tạo, bảo trợ xã hội được mở rộng theo hướng phù hợp với các quy định pháp luật liên quan; khuyến khích và tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo tham gia sâu vào các hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo.
Mười là, bổ sung theo hướng tạo điều kiện cho người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được vào tu tại cơ sở tôn giáo; được tổ chức tôn giáo Việt Nam phong chức, phong phẩm… được tập trung sinh hoạt tôn giáo riêng tại cơ sở tôn giáo hoặc tại địa điểm hợp pháp khác ở Việt Nam.
Mười một là, một số nội dung hoạt động chỉ cần thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền, như: Thông báo lễ hội định kỳ; thông báo hoạt động của cơ sở đào tạo; thông báo về tuyển sinh, thông báo thuyên chuyển chức sắc, chức việc, nhà tu hành, thông báo hội nghị thường niên, thông báo quyên góp.
Mười hai là, phân định trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo với Điều 61: “Trách nhiệm quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. 1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong phạm vi cả nước. 2. Cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo”.
Như vậy, có thể thấy hệ thống chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam rất phù hợp với quy định và mục tiêu của các công ước nhân quyền mà Việt Nam là thành viên cũng như thông lệ quốc tế. Hệ thống văn bản pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn, dân chủ hơn, tôn trọng, tạo điều kiện tốt nhất cho các chức sắc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo và tổ chức tôn giáo hợp pháp phát triển một cách lành mạnh, công bằng và bình đẳng trước pháp luật.
3. Kết luận
Hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta được ban hành và thực thi trong thực tiễn đã tạo hành lang pháp lý đảm bảo điều kiện để các tôn giáo được công nhận, được bảo vệ và hoạt động bình đẳng trước pháp luật. Đặc biệt, việc thực hiện quyền tự do tôn giáo còn khẳng định quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với cộng đồng giáo dân ở nước ta, tạo nền tảng pháp lý thuận lợi cho việc đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân cũng như hoạt động của các cơ quan làm công tác tôn giáo. Hiện nay, hoạt động của các loại hình tôn giáo đã và đang có những chuyển biến, thay đổi trước sự đổi mới và hội nhập phát triển của đất nước.
Hệ thống chính trị các cấp đang đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp, pháp luật, xây dựng ý thức “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” cho mỗi công dân. Chính quyền các địa phương tăng cường đầu tư và thực hiện có hiệu quả các dự án, chương trình mục tiêu Quốc gia nhất là những vùng có đông tín đồ tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi; đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, Chương trình “Xóa đói giảm nghèo” và phong trào thi đua yêu nước ở các địa phương, cơ sở, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, trong đó có đồng bào tôn giáo. Công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo đang tập trung đảm bảo cho các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được diễn ra bình thường theo quy định của pháp luật; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật, chống phá Nhà nước, chống phá chế độ.
Công tác tuyên truyền, giáo dục được đẩy mạnh giúp các tín đồ và chức sắc tôn giáo nhận thức đúng về quan điểm, chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước, nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động ngăn ngừa và đấu tranh làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo. Công tác đối ngoại về tôn giáo được Đảng và Nhà nước coi trọng, thông qua các diễn đàn quốc tế giúp thế giới hiểu rõ hơn chính sách nhất quán, tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Việc Việt Nam trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016) với số phiếu cao là minh chứng về sự nhìn nhận của quốc tế đối với những thành tựu về bảo đảm quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Đồng thời, là cơ hội để Việt Nam đẩy mạnh hoạt động về nhân quyền, tích cực tham gia vào việc bảo đảm quyền tự do tôn giáo trong nước, hòa cùng xu thế hội nhập với khu vực và thế giới.
Nguyễn Văn Đồng
Đại học Luật Hà Nội
 
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Tôn giáo Chính phủ, Văn bản pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, năm 2014, tr. 11-19.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2011, tr. 245.
3. Lê Quang Hưng, Pháp luật Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Luận văn thạc sĩ Đại hoc Quốc gia Hà Nội, năm 2014, tr. 3-8.
4. Phạm Khiêm Ích, Quyền con người các văn kiện quan trọng, Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1998, tr. 22.
5. Nguyễn Đức Lữ, Tìm hiểu về tôn giáo và chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà Nội, năm 2011, tr. 35.
6. Tường Duy Kiên, Quốc hội Việt Nam với việc bảo đảm quyền con người, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, năm 2006, tr. 56.
7. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, Bộ luật Dân sự, ngày 28/1/1995, Hà Nội, năm 1995.
8. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, Luật số 02/2016/QH14 ngày 18/11/2016, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo, Hà Nội, năm 2016.
9. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, Số 21/2004/PL-UBTVQH11 ngày 18/6/2004, Hà Nội, năm 2004.
Nguồn:tạp chí dân chủ pháp luật