Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng nhì

UBND xã  Tam Ngọc dẫn đầu phong trào thi đua năm 2017

UBND phường Hòa Thuận dẫn đầu phong trào thi đua Quý 3 năm 2018





















 

:::Thống kê:::

  • Đang truy cập: 25
  • Hôm nay: 760
  • Tháng hiện tại: 157247
  • Tổng lượt truy cập: 11262649

Tập san tuyên truyền pháp luật số 01/2018

Đăng lúc: Thứ sáu - 11/05/2018 15:14 - Người đăng bài viết: Tuphaptamky
CLICK VAO DAY DE THI TIM HIEU PHAP LUAT - GIẢI THƯỞNG 6 TRIỆU ĐỒNG/ĐỢT
LỜI NÓI ĐẦU Thời gian qua, công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trên địa bàn thành phố đã được triển khai thường xuyên, đồng bộ từ thành phố đến xã phường, thôn khối phố bằng nhiều hình thức khác nhau, qua đó đã kịp thời thông tin, tuyên truyền các chính sách pháp luật tới cán bộ và nhân dân. Nhằm tiếp tục đa dạng hóa công tác phổ biến giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này đối với cán bộ và nhân dân, UBND thành phố đã chỉ đạo Phòng Tư pháp – cơ quan thường trực của Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật thành phố biên soạn tài liệu tuyên truyền để phục vụ cho công tác phổ biến giáo dục pháp luật..
Tập san tuyên truyền pháp luật số 01/2018

Tập san tuyên truyền pháp luật số 01/2018


Việc biên soạn tài liệu này, chúng tôi tham khảo nhiều tập san khác nhau ở trong và ngoài tỉnh. Tuy nhiên để phù hợp với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, đoàn viên, hội viên các đoàn thể và nhân dân trên địa bàn thành phố, chúng tôi rất mong  nhận được sự góp ý để tài liệu này thực sự cần thiết và hữu ích cho các phòng ban, ngành đoàn thể và địa phương.
Mọi góp ý xin gửi về địa chỉ:
Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ
70 Hùng Vương Tam Kỳ Quảng Nam
Điện thoại: 0235. 3851.772
Website: Http://tuphaptamky.gov.vn
 Email: tuphaptamky@yahoo.com.vn
Facebook: tuphaptamky
Fanpage: https://www.facebook.com/tuphaptamky.gov.vn/

PHẦN I
VĂN BẢN CHÍNH SÁCH MỚI
(Tổng hợp các văn bản được ban hành từ 01/01/2018-31/3/2018)
--------------
I. VĂN BẢN CỦA TRUNG ƯƠNG
            1.. Chính sách hỗ trợ ăn trưa cho trẻ em mẫu giáo và chính sách đối với giáo viên mầm non dân lập, tư thục và giáo viên ở các cơ sở mầm non công lập
Chính sách hỗ trợ ăn trưa cho trẻ em mẫu giáo và chính sách đối với giáo viên mầm non dân lập, tư thục và giáo viên ở các cơ sở mầm non công lập đã được Chính phủ quy định tại Nghị định số 06/2018/NĐ-CP ngày 05/01/2018.
Giáo viên mầm non dân lập, tư thục (bao gồm cả hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) được Nhà nước hỗ trợ tài liệu và chi phí tập huấn khi tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ. Mức hỗ trợ của ngân sách thực hiện theo mức hỗ trợ đối với giáo viên công lập có cùng trình độ tham gia tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ.
Chính sách hỗ trợ tiền ăn trưa bằng 10% mức lương cơ sở/trẻ/tháng được áp dụng đối với trẻ em đang học tại lớp mẫu giáo trong các cơ sở giáo dục mầm non bảo đảm một trong những điều kiện sau: Có cha mẹ hoặc có cha hoặc có mẹ hoặc có người chăm sóc trẻ em hoặc trẻ em thường trú ở xã, thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển, hải đảo; Không có nguồn nuôi dưỡng; Là nhân khẩu trong gia đình thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo.
Phương thức hỗ trợ do lãnh đạo cơ sở giáo dục mầm non thống nhất với ban đại diện cha mẹ trẻ em để lựa chọn thực hiện theo một trong hai phương thức: Phương thức 1 là cơ sở giáo dục mầm non giữ lại kinh phí hỗ trợ để tổ chức bữa ăn cho trẻ em; Phương thức 2 là chi trả trực tiếp bằng tiền mặt cho cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em.
Nghị định này có hiệu lực từ ngày 20/02/2018.
2. Lãi suất cho vay mua nhà ở năm 2018 là 5%
Ngày 22/01/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 117/QĐ-TTg về mức lãi suất cho vay ưu đãi của các ngân hàng do Nhà nước chỉ định theo quy định tại Nghị định 100/2015/NĐ-CP.
Cụ thể, mức lãi suất cho vay ưu đãi của các ngân hàng do Nhà nước chỉ định áp dụng trong năm 2018 đối với dư nợ của các khoản vay để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà ở là 5%/năm.
Có thể thấy, so với năm 2016 và 2017, mức lãi suất nêu trên không thay đổi.
Quyết định này có hiệu lực từ ngày ký.
3. Hướng dẫn tính tổng khối lượng ma túy tại Bộ Luật Hình sự
Ngày 02/02/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định 19/2018/NĐ-CP quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy theo quy định của Nghị định này là khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy thu giữ hoặc chứng minh được trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Việc xác định khối lượng thuốc phiện trong xái thuốc phiện, thuốc phiện pha loãng, thuốc phiện pha trộn được tính theo thuốc phiện chứa 10% moriphine làm căn cứ quy đổi.
Tỷ lệ phần trăm về khối lượng hoặc thể tích của từng chất ma túy được tính theo quy định của Nghị định này nếu là số thập phân thì gồm một chữ số sau dấu phẩy và không làm tròn.
Nghị định này có hiệu lực từ ngày ký.
4. Chung cư, khách sạn phải mua bảo hiểm cháy, nổ
Ngày 23/02/2018, Chính phủ  ban hành Nghị định 23/2018/NĐ-CP quy định về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc.
Nghị định này yêu cầu cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ như nhà chung cư, khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ từ 05 tầng trở lên; nhà trẻ, trường mẫu giáo có từ 100 cháu trở lên; cửa hàng xăng dầu có từ 01 cột bơm trở lên… phải mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc tại các doanh nghiệp kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm cháy, nổ.
Đối tượng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc là toàn bộ tài sản của cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ, gồm: Nhà, công trình và các tài sản gắn liền với nhà,công trình; máy móc, thiết bị; Các loại hàng hóa, vật tư. Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường bảo hiểm cho các thiệt hại xảy ra do cháy, nổ đối với các đối tượng này.
Các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không phải bồi thường trong các trường hợp như: Động đất hoặc những biến động khác của thiên nhiên; Thiệt hại do biến cố về chính trị, an ninh và trật tự xã hội gây ra; Thiệt hại do hành động cố ý gây cháy, nổ của người được bảo hiểm; Thiệt hại đối với dữ liệu, phần mềm và các chương trình máy tính…
Nghị định này có hiệu lực từ ngày 15/04/2018.

5. Phạt đến 100 triệu đồng vi phạm hành chính trong kế toán

Theo Nghị định 41/2018/NĐ-CP ngày 12/3/2018 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập, mức phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập là 50 triệu đồng đối với cá nhân và 100 triệu đồng đối với tổ chức.
Trong đó, với lĩnh vực kế toán, về xử phạt hành vi vi phạm quy định chung về pháp luật kế toán, phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Áp dụng sai quy định về chữ viết; chữ số trong kế toán; áp dụng sai quy định về đơn vị tiền tệ trong kế toán; áp dụng sai quy định về kỳ kế toán; áp dụng sai chế độ kế toán mà đơn vị thuộc đối tượng áp dụng.
Phạt tiền từ 5-10 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau: Lập chứng từ kế toán không đủ số liên theo quy định của mỗi loại chứng từ kế toán; ký chứng từ kế toán khi chưa ghi đủ nội dung chứng từ thuộc trách nhiệm của người ký; ký chứng từ kế toán mà không đúng thẩm quyền; chữ ký của một người không thống nhất hoặc không đúng với sổ đăng ký mẫu chữ ký; chứng từ kế toán không có đủ chữ ký theo chức danh quy định trên chứng từ; không dịch chứng từ kế toán bằng tiếng nước ngoài ra tiếng Việt theo quy định; để hư hỏng, mất mát tài liệu, chứng từ kế toán đang trong quá trình sử dụng…
6. Ép người khác mua bảo hiểm nhân thọ bị phạt đến 100 triệu đồng
Ngày 21/3/2018, Chính phủ ban hành  Nghị định 48/2018/NĐ-CP  sửa đổi Nghị định 98/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ số.
Theo đó, phạt tiền từ 40 triệu đồng đến 50 triệu đồng đối với hành vi ép buộc các tổ chức, cá nhân mua bảo hiểm nhân thọ, sức khỏe dưới mọi hình thức.
Mức phạt trên áp dụng đối với cá nhân vi phạm, còn trường hợp tổ chức vi phạm sẽ bị phạt gấp đôi (tức là phạt từ 80 triệu đồng đến 100 triệu đồng).
7. Miễn nhiều phí, lệ phí đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chính phủ vừa  ban hành Nghị định 39/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017.
Theo đó, những hỗ trợ dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa được quy định chi tiết bằng những con số cụ thể.
Đặc biệt, doanh nghiệp nhỏ và vừa được miễn nhiều loại phí, lệ phí, đơn cử như sau:
*  Doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh
- Miễn lệ phí đăng ký doanh nghiệp và công bố thông tin doanh nghiệp lần đầu;
- Miễn lệ phí môn bài trong 03 năm;
- Miễn phí tư vấn thuế, kế toán trong 03 năm…
            *  Doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo
- Miễn phí giá trị hợp đồng tư vấn về: Chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp…
- Miễn chi phí gian hàng tại Hội chợ xúc tiến thương mại trong nước và quốc tế;
- Miễn chi phí sử dụng trang thiết bị tại các cơ sở hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa…
8. Quy định về giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn TNHS
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 37/2018/NĐ-CP hướng dẫn biện pháp giám sát, giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự (TNHS).
Theo đó, hình thức giám sát, giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn TNHS, gồm:
- Yêu cầu người được giám sát, giáo dục làm cam kết thực hiện nghiêm chỉnh các biện pháp giám sát, giáo dục;
- Hướng dẫn, động viên người được giám sát, giáo dục tham gia các lớp học về kỹ năng sống, học văn hóa, hướng nghiệp, dạy nghề;
- Thông báo cho gia đình người được giám sát, giáo dục về tình hình chấp hành của người đó;
- Yêu cầu người được giám sát, giáo dục trình diện trước cơ quan có thẩm quyền.
            Ngoài ra, thời hạn giám sát, giáo dục được tính từ ngày người được giám sát, giáo dục có mặt tại trụ sở UBND cấp xã để nghe thông báo về việc thi hành biện pháp giám sát, giáo dục.
           
II. VĂN BẢN ĐỊA PHƯƠNG
1. Bãi bỏ các quy định về thực hiện mức hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế cho cán bộ không chuyên trách xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Ngày 31/01/2018, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 02/2018/QĐ-UBND về Bãi bỏ các quy định về thực hiện mức hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế cho cán bộ không chuyên trách xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ban hành kèm theo Quyết định số 02/2010/QĐ-UBND ngày 19 tháng 01 năm 2010 của UBND tỉnh Quảng Nam.
Quyết định bãi bỏ Điều 4, Điều 5, Điều 6 và Khoản 1, 2 Điều 8 Chương II Quy định về thực hiện mức hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế cho cho cán bộ không chuyên trách xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ban hành kèm theo Quyết định số 02/2010/QĐ-UBND ngày 19 tháng 01 năm 2010 của UBND tỉnh Quảng Nam kể từ ngày 01/01/2018.
Quyết định có hiệu lực kể từ ngày 15/02/2018.
2. Ban hành Quy định hệ số điều chỉnh giá đất năm 2018 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Ngày 15/01/2018, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định số 01/2018/QĐ-UBND về Ban hành Quy định hệ số điều chỉnh giá đất năm 2018 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
Quyết định có hiệu lực kể từ ngày 25/01/2018 và thay thế Quyết định số 18/2017/QĐ-UBND ngày 18/8/2017 của UBND tỉnh ban hành quy định hệ số điều chỉnh giá đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam./.

3. UBND tỉnh Quảng Nam hỗ trợ kinh phí hoạt động cho ban thanh tra nhân dân

Ngày 06/02/2018, UBND tỉnh Quảng Nam đã ban hành Quyết định số 550/QĐ-UBND Về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 46/2017/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Khóa IX tại kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 07/12/2017, quy định mức kinh phí hỗ trợ hoạt động của Ban thanh tra nhân dân cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, theo đó:

Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng mức kinh phí hỗ trợ là Ban thanh tra nhân dân cấp xã trên dịa bàn tỉnh Quảng Nam được thành lập theo Điều 68 Luật Thanh tra  năm 2010.
Kinh phí hỗ trợ la 5 triệu/ban/năm.
Nguồn kinh phí hỗ trợ: Hằng năm ngân sách sẽ bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước các địa phương để hỗ trợ cho Ban thanh tra nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ.

4.. Quảng Nam ban hành mức hỗ trợ khôi phục sản xuất nông nghiệp bị thiệt hại do thiên tai

Quyết định 03/2018/QĐ-UBND ngày 05/02/2018 của UBND tỉnh Quảng Nam Ban hành Quy định mức hỗ trợ để khôi phục sản xuất nông nghiệp vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh trên địa bàn tỉnh Quảng Nam theo Nghị định số 02/2017/NĐ-CP ngày 09/01/2017 của Chính phủ, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/02/2017, theo đó:

Đối tượng được hỗ trợ là hộ nông dân, người nuôi trồng thủy sản, chủ trang trại, gia trại, tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, lâm nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại trực tiếp do thiên tai, dịch bệnh trên địa bàn tỉnh.

Mức hỗ trợ  đối với sản xuất cây dược liệu quy định như sau:

– Diện tích cây dược liệu bị thiệt hại trên 70%, hỗ trợ 4 triệu đồng/ha; thiệt hại từ 30%-70% hỗ trợ 2 triệu đồng/ha.
– Diện tích cây giống dược liệu trong giai đoạn vườn ươm bị thiệt hại trên 70%, hỗ trợ 40 triệu đồng/ha; thiệt hại từ 30-70% hỗ trợ 20 triệu đồng/ha.
Mức hỗ trợ đối với sản xuất hoa, cây cảnh như sau:
– Đối với hoa, cây cảnh có thời gian sinh trưởng dưới 1 năm
+ Diện tích thiệt hai trên 70% hỗ trợ 4 triệu đồng/ha, thiệt hại từ 30-70% hỗ trợ 2 triệu đồng/ha.
+ Hoa, cây cảnh trồng chậu bị thiệt hại trên 70% hỗ trợ 4 triệu đồng/1000 chậu; thiệt hại từ 30-70% hỗ trợ 2 triệu đồng/1000 chậu.
– Đối với hoa, cây cảnh có thời gian sinh trưởng từ 1 năm trở lên
+ Diện tích thiệt hai trên 70% hỗ trợ 6 triệu đồng/ha, thiệt hại từ 30-70% hỗ trợ 3 triệu đồng/ha.
+ Hoa, cây cảnh trồng chậu bị thiệt hại trên 70% hỗ trợ 8 triệu đồng/1000 chậu; thiệt hại từ 30-70% hỗ trợ 4 triệu đồng/1000 chậu.
Mức hỗ trợ đối với sản xuất giống cây ăn quả như sau:
Diện tích cây giống được ươm trong giai đoạn vườn ươm bị thiệt hại trên 70% được hỗ trợ 40 triệu đồng/ha; bị thiệt hại từ 30-70% hỗ trợ 20 triệu đông/ha
Mức hỗ trợ đối với nuôi thủy, hải sản lồng bè nước lợ mặn vùng cửa sông, ven bờ:
Bị thiệt hại trên 70% được hỗ trợ 15,5 triệu đến 20 triệu/100m3 lồng; bị thiệt hại từ 30-70% hỗ trợ từ 10-15 triệu/100m3 lồng.
Mức hỗ trợ đối với nuôi chim cút
Chim cút đến  28 ngày tuối hỗ trợ  4000đ/con; trên 28 ngày tuổi hỗ trợ 7000đ/con.

PHẦN II
ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN
LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN
Luật tiếp cận thông tin được Quốc hội thông qua ngày 6/4/2016. Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 19/4/2016. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2018.
I. Bố cục của Luật tiếp cận thông tin
Luật gồm 5 chương, 37 Điều, cụ thể như sau:
- Chương I - Những quy định chung (16 điều, từ Điều 1 đến Điều 16) gồm các quy định về phạm vi điều chỉnh, giải thích từ ngữ, quyền tiếp cận thông tin của công dân; nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin; chủ thể thực hiện quyền tiếp cận thông tin; thông tin công dân được tiếp cận, thông tin công dân không được tiếp cận, thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện; quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc tiếp cận thông tin; phạm vi và trách nhiệm cung cấp thông tin; cách thức tiếp cận thông tin; các hành vi bị nghiêm cấm; chi phí tiếp cận thông tin; giám sát việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin; khiếu nại, khởi kiện, tố cáo; xử lý vi phạm; áp dụng pháp luật về tiếp cận thông tin.
- Chương II - Công khai thông tin (6 điều, từ Điều 17 đến Điều 22) gồm các quy định về thông tin phải được công khai, hình thức, thời điểm công khai thông tin, việc công khai thông tin trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, trên phương tiện thông tin đại chúng, đăng Công báo, niêm yết và xử lý thông tin không chính xác.
- Chương III- Cung cấp thông tin theo yêu cầu (10 điều, từ Điều 23 đến Điều 32) gồm các quy định về loại thông tin được cung cấp theo yêu cầu; hình thức yêu cầu cung cấp thông tin; hình thức cung cấp thông tin theo yêu cầu; tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin, giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin và từ chối yêu cầu cung cấp thông tin; trình tự, thủ tục cung cấp thông tin trực tiếp tại trụ sở cơ quan cung cấp thông tin, trình tự cung cấp thông tin thông qua mạng điện tử, trình tự, thủ tục cung cấp thông tin thông qua dịch vụ bưu chính, fax và xử lý thông tin cung cấp theo yêu cầu không chính xác.
- Chương IV - Trách nhiệm bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân (3 điều, từ Điều 33 đến Điều 35) gồm các quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân; trách nhiệm của cơ quan cung cấp thông tin trong việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin; trách nhiệm của Chính phủ, các bộ và Ủy ban nhân dân các cấp trong việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân.
- Chương V - Điều khoản thi hành (2 điều, Điều 36 và Điều 37) gồm quy định về điều khoản áp dụng và hiệu lực thi hành.
II.  Nội dung cơ bản của Luật tiếp cận thông tin
1. Về một số quy định chung
- Về phạm vi điều chỉnh của Luật: Luật này quy định về việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, nguyên tắc, trình tự, thủ tục thực hiện quyền tiếp cận thông tin, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân (Điều 1).
- Khái niệm thông tin, thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra:
Theo quy định của Luật, Thông tin là tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo ra (khoản 1 Điều 2).
Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ quan nhà nước thường nắm giữ hai loại thông tin, đó là, thông tin do chính cơ quan mình tạo ra trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ và thông tin do mình nắm giữ vì nhận được từ cơ quan khác gửi cho mình. Tuy nhiên, về nguyên tắc, cơ quan nhà nước chỉ có trách nhiệm trực tiếp cung cấp đối với những thông tin do chính mình tạo ra.
Thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra là tin, dữ liệu được tạo ra trong quá trình cơ quan nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật, được người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước đó ký, đóng dấu hoặc xác nhận bằng văn bản (khoản 2 Điều 2).
- Về nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin:
Quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản của công dân, tạo tiền đề cho việc hưởng các quyền và lợi ích khác và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin mang lại ý nghĩa, lợi ích thực sự cho người dân, không mang tính hình thức, cũng như để thể chế hóa nội dung và tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về việc ghi nhận, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Luật đưa ra nguyên tắc là mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ; việc cung cấp thông tin phải kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân; đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; việc hạn chế quyền tiếp cận thông tin phải do luật định trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng; việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức hoặc của người khác; Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin (Điều 3).
- Về hành vi bị nghiêm cấm:
Công dân có quyền tiếp cận thông tin theo quy định của Hiến pháp năm 2013. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm, nghĩa vụ bảo đảm quyền tiếp cận thông tin. Tuy nhiên quyền tiếp cận thông tin không phải là quyền không có giới hạn, do đó, trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin công dân và cơ quan nhà nước đều có nghĩa vụ nhất định và không được thực hiện các hành vi cố ý cung cấp thông tin sai lệch, không đầy đủ, trì hoãn việc cung cấp thông tin; hủy hoại thông tin; làm giả thông tin; cung cấp hoặc sử dụng thông tin để chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phá hoại chính sách đoàn kết, kích động bạo lực; cung cấp hoặc sử dụng thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín, gây kỳ thị về giới, gây thiệt hại về tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức; cản trở, đe dọa, trù dập người yêu cầu, người cung cấp thông tin.
- Về chi phí tiếp cận thông tin:
Cung cấp thông tin là trách nhiệm của nhà nước, do vậy, Luật không đặt ra việc thu phí hay lệ phí tiếp cận thông tin, trừ trường hợp luật khác có quy định. Người yêu cầu cung cấp thông tin chỉ phải trả các chi phí thực tế cho việc in ấn, sao chụp, gửi thông tin. Về mức chi phí cụ thể, việc quản lý và sử dụng chi phí cung cấp thông tin, Luật ủy quyền cho Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định cụ thể.
2. Về chủ thể thực hiện quyền tiếp cận thông tin
Cụ thể hóa quy định tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013 “Công dân có quyền ... tiếp cận thông tin”, Luật quy định chủ thể thực hiện quyền tiếp cận thông tin là công dân (khoản 1 Điều 4). Bên cạnh đó, Luật còn quy định việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của nhóm đối tượng là người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và người dưới 18 tuổi thực hiện quyền tiếp cận thông tin thông qua người đại diện theo pháp luật (khoản 2, khoản 3 Điều 4).
Đối với các trường hợp là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam được bảo hộ một số quyền, lợi ích chính đáng theo nguyên tắc đối xử quốc gia hoặc có đi có lại, bởi vậy, Luật quy định họ chỉ được yêu cầu cung cấp những thông tin có liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của họ (khoản 1 Điều 36).
3. Về chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin
Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo Luật điều chỉnh mối quan hệ về tiếp cận thông tin giữa Nhà nước và công dân, do đó, Luật quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước từ cơ quan hành pháp, tư pháp đến cơ quan lập pháp cung cấp thông tin cho công dân; đồng thời quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân. Điều cần lưu ý là các cơ quan chỉ có trách nhiệm cung cấp các thông tin thuộc phạm vi thông tin được tiếp cận và do mình tạo ra. Riêng đối với các khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng điều kiện khó khăn, để tạo thuận lợi cho công dân trong việc yêu cầu cung cấp thông tin và căn cứ vào thực tiễn nắm giữ thông tin của Ủy ban nhân dân cấp xã (là nơi tiếp nhận hầu hết các thông tin chính thức của các cơ quan nhà nước cấp trên như các chủ trương, chính sách, văn bản pháp luật... và là cấp cơ sở gần với người dân nhất, nơi cung cấp và giải đáp mọi nhu cầu, vướng mắc cho người dân), Luật giao thêm trách nhiệm cho Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc cung cấp thông tin do mình nhận được từ cơ quan khác để trực tiếp thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Cơ quan nhà nước trực tiếp tổ chức thực hiện việc cung cấp thông tin, trừ các trường hợp sau đây:
(i) Văn phòng Quốc hội có trách nhiệm cung cấp thông tin do Quốc hội, cơ quan của Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử quốc gia tạo ra và thông tin do mình tạo ra;
(ii) Văn phòng Chủ tịch nước có trách nhiệm cung cấp thông tin do Chủ tịch nước tạo ra và thông tin do mình tạo ra;
(iii) Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm cung cấp thông tin do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tạo ra và thông tin do mình tạo ra;
(iv) Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội có trách nhiệm cung cấp thông tin do Đoàn đại biểu Quốc hội tạo ra và thông tin do mình tạo ra;
(v) Văn phòng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm cung cấp thông tin do Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các cơ quan của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tạo ra và thông tin do mình tạo ra;
(vi) Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm cung cấp thông tin do Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tạo ra và thông tin do mình tạo ra;
(vii) Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm cung cấp thông tin do Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các cơ quan của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện tạo ra và thông tin do mình tạo ra;
(viii) Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm cung cấp cho công dân cư trú trên địa bàn thông tin do mình và do các cơ quan ở cấp mình tạo ra, thông tin do mình nhận được để trực tiếp thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; cung cấp cho công dân khác thông tin này trong trường hợp liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ;
(ix) Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quy định đầu mối thực hiện cung cấp thông tin trong hệ thống tổ chức của mình.
4. Cách thức tiếp cận thông tin
Luật quy định công dân được tiếp cận thông tin bằng hai cách thức: (i) Tự do tiếp cận thông tin do cơ quan nhà nước công khai; (ii) Yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin (Điều 10).
5. Phạm vi thông tin được tiếp cận
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc xác định phạm vi thông tin mà mình được tiếp cận, Luật quy định về thông tin công dân được tiếp cận (Điều 5), thông tin công dân không được tiếp cận (Điều 6) và thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện (Điều 7). Theo đó, công dân được tiếp cận tất cả thông tin của cơ quan nhà nước theo quy định của Luật này, trừ thông tin công dân không được tiếp cận quy định tại Điều 6 của Luật và được tiếp cận có điều kiện đối với thông tin quy định tại Điều 7 của Luật.
Thông tin công dân không được tiếp cận đó là (i) Thông tin thuộc bí mật nhà nước, bao gồm những thông tin có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ và các lĩnh vực khác theo quy định của luật. (ii) Thông tin mà nếu để tiếp cận sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh quốc gia, quan hệ quốc tế, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng; gây nguy hại đến tính mạng, cuộc sống hoặc tài sản của người khác; thông tin thuộc bí mật công tác; thông tin về cuộc họp nội bộ của cơ quan nhà nước; tài liệu do cơ quan nhà nước soạn thảo cho công việc nội bộ.
Thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện đó là (i) Thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh được tiếp cận trong trường hợp chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó đồng ý. (ii) Thông tin liên quan đến bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân được tiếp cận trong trường hợp được người đó đồng ý; thông tin liên quan đến bí mật gia đình được tiếp cận trong trường hợp được các thành viên gia đình đồng ý. (iii) Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, người đứng đầu cơ quan nhà nước quyết định việc cung cấp thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong trường hợp cần thiết vì lợi ích công cộng, sức khỏe của cộng đồng theo quy định của luật có liên quan mà không cần có sự đồng ý theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Trên cơ sở 02 cách thức tiếp cận được quy định tại Điều 10, Luật quy định cụ thể phạm vi thông tin mà cơ quan nhà nước phải công khai và cung cấp theo yêu cầu, bao gồm:
5.1. Thông tin các cơ quan nhà nước phải công khai
Nhằm bảo đảm cho thông tin được công khai và phổ biến đến người dân ở phạm vi rộng nhất, Luật quy định các loại thông tin và cách thức công khai thông tin trên trang/cổng thông tin điện tử, phương tiện thông tin đại chúng và đăng Công báo, niêm yết. Theo đó, Luật quy định các thông tin phải được công khai tại khoản 1 Điều 17 bao gồm (i) Văn bản quy phạm pháp luật; văn bản hành chính có giá trị áp dụng chung; điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam là một bên; thủ tục hành chính, quy trình giải quyết công việc của cơ quan nhà nước; (ii) Thông tin phổ biến, hướng dẫn thực hiện pháp luật, chế độ, chính sách đối với những lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của cơ quan nhà nước; (iii) Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật; nội dung và kết quả trưng cầu ý dân, tiếp thu ý kiến của Nhân dân đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của cơ quan nhà nước mà đưa ra lấy ý kiến Nhân dân theo quy định của pháp luật; đề án và dự thảo đề án thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính; (iv) Chiến lược, chương trình, dự án, đề án, kế hoạch, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, địa phương; quy hoạch ngành, lĩnh vực và phương thức, kết quả thực hiện; chương trình, kế hoạch công tác hằng năm của cơ quan nhà nước; (v) Thông tin về dự toán ngân sách nhà nước; báo cáo tình hình thực hiện ngân sách nhà nước; quyết toán ngân sách nhà nước; dự toán, tình hình thực hiện, quyết toán ngân sách đối với các chương trình, dự án đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn ngân sách nhà nước; thủ tục ngân sách nhà nước; (vi) Thông tin về phân bổ, quản lý, sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức và nguồn viện trợ phi chính phủ theo quy định; thông tin về quản lý, sử dụng các khoản cứu trợ, trợ cấp xã hội; quản lý, sử dụng các khoản đóng góp của Nhân dân, các loại quỹ; (vii) Thông tin về danh mục dự án, chương trình đầu tư công, mua sắm công và quản lý, sử dụng vốn đầu tư công, tình hình và kết quả thực hiện kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công; thông tin về đấu thầu; thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; giá đất; thu hồi đất; phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn; (viii) Thông tin về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp; báo cáo đánh giá kết quả hoạt động và xếp loại doanh nghiệp; báo cáo giám sát tình hình thực hiện công khai thông tin tài chính của doanh nghiệp và cơ quan nhà nước đại diện chủ sở hữu; thông tin về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước,...
 Nhằm tăng cường trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc chủ động công khai các thông tin, từ đó sẽ giảm tải cung cấp thông tin theo yêu cầu của công dân, giảm chi phí hành chính cũng như chi phí tiếp cận thông tin cho người dân, Luật cũng quy định: ngoài thông tin quy định tại khoản 1 nêu trên, căn cứ vào điều kiện thực tế, cơ quan nhà nước chủ động công khai thông tin khác do mình tạo ra hoặc nắm giữ (khoản 2 Điều 17); và quy định các thông tin cụ thể bắt buộc phải đăng tải trên trang thông tin/cổng thông tin điện tử để người dân có thể tiếp cận (Điều 19).
Bên cạnh đó, Luật quy định cụ thể các hình thức, thời điểm công khai thông tin, trong đó có quy định về việc công khai thông tin trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, trên phương tiện thông tin đại chúng, đăng Công báo, niêm yết.
5.2. Thông tin được cung cấp theo yêu cầu
Các loại thông tin được cung cấp theo yêu cầu quy định tại Điều 23 bao gồm: (i) thông tin phải được công khai nhưng: chưa được công khai; đã hết thời hạn công khai hoặc đang được công khai nhưng vì lý do khách quan người yêu cầu không thể tiếp cận; (ii) Thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình đủ điều kiện cung cấp theo quy định tại Điều 7 của Luật này; (iii) Thông tin liên quan trực tiếp đến đời sống, sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của người yêu cầu cung cấp thông tin nhưng không thuộc loại thông tin quy định tại Điều 17 của Luật này và khoản 2 Điều này.
Tương tự như đối với thông tin các cơ quan nhà nước phải công khai, nhằm tăng cường trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin theo yêu cầu và giảm chi phí cho công dân trong việc tiếp cận thông tin, Luật cũng quy định: Ngoài thông tin quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn, điều kiện và khả năng thực tế của mình, cơ quan nhà nước có thể cung cấp thông tin khác do mình tạo ra hoặc nắm giữ.
6. Quy trình tiếp cận thông tin theo yêu cầu của công dân
Khi có yêu cầu cung cấp thông tin, người yêu cầu cung cấp thông tin có thể yêu cầu cung cấp thông tin bằng trực tiếp hoặc ủy quyền cho người khác đến trụ sở của cơ quan nhà nước yêu cầu cung cấp thông tin hoặc gửi Phiếu yêu cầu qua mạng điện tử, dịch vụ bưu chính, fax đến cơ quan cung cấp thông tin.
Việc cung cấp thông tin theo yêu cầu được thực hiện bằng hình thức trực tiếp tại trụ sở cơ quan cung cấp thông tin hoặc qua mạng điện tử, dịch vụ bưu chính, fax. Về nguyên tắc, cơ quan nhà nước được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin theo hình thức mà người yêu cầu đề nghị phù hợp với tính chất của thông tin được yêu cầu cung cấp và khả năng của cơ quan, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Cơ quan nhà nước có trách nhiệm tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin và vào Sổ theo dõi cung cấp thông tin theo yêu cầu. Trường hợp Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin chưa đầy đủ, chưa rõ ràng các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 24 của Luật này, cơ quan cung cấp thông tin có trách nhiệm hướng dẫn người yêu cầu bổ sung. Trường hợp thông tin được yêu cầu không thuộc trách nhiệm cung cấp thì cơ quan nhận được yêu cầu phải thông báo và hướng dẫn người yêu cầu đến cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin.
Khi nhận được yêu cầu cung cấp thông tin hợp lệ, cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin. Trường hợp từ chối cung cấp thông tin, cơ quan nhà nước phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. Cơ quan nhà nước từ chối cung cấp thông tin trong các trường hợp: (i) Thông tin quy định tại Điều 6 của Luật này; thông tin không đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 7 của Luật này;  (ii) Thông tin được công khai theo quy định tại Điều 17 của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật này; (iii) Thông tin được yêu cầu không thuộc trách nhiệm cung cấp; (iv) Thông tin đã được cung cấp hai lần cho chính người yêu cầu, trừ trường hợp người yêu cầu có lý do chính đáng; (iv) Thông tin được yêu cầu vượt quá khả năng đáp ứng hoặc làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan; (v) Người yêu cầu cung cấp thông tin không thanh toán chi phí thực tế để in, sao, chụp, gửi thông tin qua dịch vụ bưu chính, fax.
Luật quy định trình tự, thủ tục, thời hạn cung cấp thông tin theo yêu cầu trên tinh thần bảo đảm cho công dân được cung cấp thông tin một cách thuận tiện, nhanh chóng và ít tốn kém nhất. Cơ quan được yêu cầu cung cấp thông tin có trách nhiệm xem xét, giải quyết kịp thời yêu cầu cung cấp thông tin theo trình tự và thời hạn luật định.
Theo đó, Luật quy định trình tự, thủ tục cung cấp thông tin trực tiếp tại trụ sở cơ quan cung cấp thông tin (Điều 29); trình tự, thủ tục cung cấp thông tin qua mạng điện tử (Điều 30) và trình tự, thủ tục cung cấp thông tin qua dịch vụ bưu chính, fax (Điều 31). Cụ thể: (i) đối với yêu cầu cung cấp thông tin đơn giản, có sẵn và có thể cung cấp ngay, cơ quan được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin ngay cho người yêu cầu hoặc trong thời hạn chậm nhất là 03 hoặc 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ; (ii) đối với các thông tin phức tạp thì thời hạn cung cấp thông tin chậm nhất là 15 ngày làm việc.
Trường hợp cơ quan được yêu cầu cần thêm thời gian để xem xét, tìm kiếm, tập hợp, sao chép, giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin thì có thể gia hạn tùy thuộc vào cách thức cung cấp thông tin tối đa không quá 10 hoặc 15 ngày làm việc và phải có văn bản thông báo cho người yêu cầu về việc gia hạn trong thời hạn cung cấp thông tin.
7. Xử lý thông tin công khai không chính xác và thông tin cung cấp theo yêu cầu không chính xác
Nhằm đảm bảo thông tin được cung cấp phải kịp thời, chính xác, đầy đủ, Luật quy định cụ thể về các trường hợp, trách nhiệm của các cơ quan công khai không chính xác và thông tin cung cấp theo yêu cầu không chính xác, đồng thời quy định về thời gian, hình thức để đính chính, công khai thông tin và cung cấp thông tin theo yêu cầu chính xác, kịp thời (Điều 22, Điều 32).
8. Biện pháp bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân
Điều 33 của Luật quy định cụ thể các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, đó là:
- Bồi dưỡng nâng cao năng lực, chuyên môn, nghiệp vụ cho người được giao nhiệm vụ cung cấp thông tin trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân.
- Vận hành cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử; xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu thông tin mà cơ quan có trách nhiệm cung cấp theo quy định của Chính phủ.
- Tăng cường cung cấp thông tin thông qua hoạt động của người phát ngôn của cơ quan và các phương tiện thông tin đại chúng.
- Xác định đơn vị, cá nhân làm đầu mối cung cấp thông tin.
- Bố trí hợp lý nơi tiếp công dân để cung cấp thông tin phù hợp với điều kiện của từng cơ quan.
- Củng cố, kiện toàn công tác văn thư, lưu trữ, thống kê; trang bị các phương tiện kỹ thuật, công nghệ thông tin và các điều kiện cần thiết khác để người yêu cầu có thể trực tiếp đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp tài liệu tại trụ sở cơ quan nhà nước và qua mạng điện tử.
9. Về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân
Để bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, Luật quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc xác định đơn vị, cá nhân làm đầu mối cung cấp thông tin; lập, cập nhật, công khai Danh mục thông tin phải được công khai; duy trì, lưu giữ, cập nhật cơ sở dữ liệu thông tin có trách nhiệm cung cấp, bảo đảm thông tin có hệ thống, đầy đủ, toàn diện, kịp thời, dễ dàng tra cứu; rà soát, phân loại, kiểm tra và bảo đảm tính bí mật của thông tin trước khi cung cấp… Bộ Thông tin và Truyền thông giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn kỹ thuật các biện pháp và quy trình bảo vệ thông tin và bảo vệ các hệ thống quản lý thông tin. Bộ Tư pháp giúp Chính phủ theo dõi chung việc thi hành Luật này. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh mình, thi hành các biện pháp bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân theo hướng dẫn của Chính phủ.

PHẦN III
TIN NỔI BẬT VỀ HOẠT ĐỘNG PHỔ BIẾN
PHÁP LUẬT TRONG QUÝ I/2018
1. Tam Kỳ tổ chức hội nghị triển khai Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước và Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
Chiều ngày 30/3/2017, UBND thành phố Tam Kỳ tổ chức hội nghị triển khai Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 cho hơn 100 đại biểu là đại diện lãnh đạo các Ban xây dựng Đảng, UBMTTQVN, phòng, ban, đơn vị, đoàn thể; thành viên Hội đồng phối hợp; báo cáo viên pháp luật thành phố; cán bộ, công chức phụ trách công tác pháp chế của các cơ quan, đơn vị; đại diện lãnh đạo Đảng ủy, HĐND, UBND, UBMTTQVN, các đoàn thể, công an, công chức Tư pháp - Hộ tịch 13 xã, phường.
Tại hội nghị, các đại biểu tham dự đã được nghe đồng chí Đinh Tấn Long - Phó Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ giới thiệu những điểm mới cơ bản của Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018) như: Chủ thể của Luật hình sự, chế định chuẩn bị phạm tội, che giấu tội phạm, hình phạt...
Dịp này, hội nghị cũng được nghe đồng chí Nguyễn Quốc Sử - Trưởng phòng Tư pháp thành phố - Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh triển khai nội dung cơ bản của Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017 (có hiệu lực thi hành kể từ 01/7/2018). Nhiều nội dung được hội nghị quan tâm như: nguyên tắc bồi thường của Nhà nước; phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong các lĩnh vực; cơ quan giải quyết bồi thường; trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường; kinh phí bồi thường và thủ tục chi trả; quy định về mức hoàn trả của người thi hành công vụ; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong công tác bồi thường nhà nước...
Kết thúc hội nghị, BTC đã phát phiếu khảo sát dưới hình thức trắc nghiệm. Được biết, BTC sẽ tiến hành chấm và gửi kết quả đến từng cơ quan, đơn vị có đại biểu tham dự./.
NGÔ SƯƠNG
2. Tam Kỳ tuyên truyền luật dưới cờ cho học sinh khối Tiểu học
Nhằm nâng cao nhận thức và hiểu biết pháp luật cho học sinh, chiều ngày 19/3/2018, Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ phối hợp với Phòng Lao động, Thương binh và xã hội và Thành đoàn tổ chức tuyên truyền luật dưới cờ tại trường Tiểu học Ngô Quyền.
Tại giờ chào cờ đầu tuần, các em học sinh đã được tìm hiểu các nội dung pháp luật quan trọng như Luật Trẻ em, các quy định về dân sự, hình sự, giao thông đường bộ... liên quan đến trẻ em. Qua buổi tuyên truyền giúp các em nắm vững những kiến thức cơ bản về quyền của mình như quyền được học tập, quyền được vui chơi, quyền được bảo vệ tính mạng và tôn trọng nhân phẩm, quyền được bày tỏ ý kiến, tiếp cận thông tin, quyền được tham gia các hoạt động xã hội vừa sức theo lứa tuổi; trách nhiệm của trẻ em đối với gia đình, nhà trường và xã hội.
Theo kế hoạch thì chương trình phối hợp giữa 03 cơ quan sẽ được duy trì trong tháng 3 đến tháng 5/2018 đến tất cả các trường Tiểu học trên địa bàn thành phố./.
THÚY SƯƠNG
 
PHẦN IV
CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT
CÔNG CHỨNG TỪ XA
***
Phân vai: - Bà Xuân: Người bán nhà - Anh Tiến: Con trai bà Xuân - Anh Bình: Công chứng viên - Ông Trung: Người mua nhà
Cảnh 1: Tại nhà bà Xuân, bà Xuân và ông Trung đang trao đổi về việc bán lại căn nhà bà Xuân đang ở cho ông Trung.
Ông Trung nói: Thế nào bà quyết đi, giá tôi đưa ra là hợp lý lắm rồi đấy, không thể cao hơn nữa được đâu.
Bà Xuân: Ừ thì biết thế nhưng thật tâm, tôi không nỡ bán căn nhà này tý nào đâu. Dù gì nó cũng giúp nhà chúng tôi che mưa che nắng có đến hơn 20 năm rồi ấy chứ. Nếu không phải vì thằng Tiến đang cần tiền, lại muốn tôi sang Mỹ ở hẳn với nó thì tôi cũng không muốn bán đâu.
Ông Trung cười nói: Bà có cậu con trai thành đạt, giỏi giang lại còn có hiếu thế thì còn buồn cái gì nữa! Bên Mỹ phát triển như thế, bà sang đấy thì chả sướng như tiên còn băn khoăn, phàn nàn cái gì.
Bà Xuân buồn rầu đáp: Cũng biết, bên đó phát triển, nhà cao cửa rộng, điều kiện sống lại tốt nhưng tôi vẫn thích sống ở Việt Nam, dù gì tôi cũng già rồi sang bên đấy không biết tiếng thì có ru rú ở nhà. Ở Việt Nam còn có họ hàng, làng xóm, láng giềng gắn bó lâu rồi, lại còn văn hóa, phong tục tập quán đã ăn vào máu mình rồi, sang đó khó có thể thích nghi được ông ạ.
Ông Trung nói: Bà lo gì, tôi nghe bảo chỗ con trai bà là khu của người Việt. Bên đấy người Việt Nam ở đông lắm, không lo không quen được bạn bè mới đâu. Mình không biết tiếng cũng không ngại gì cả.
Bà Xuân cười rồi nói: Thôi tôi chịu ông rồi đấy. Thấy ông nhiệt tình như vậy tôi cùng đành chiều ông vậy.
Ông Trung hồ hởi nói: Thế thì còn gì bằng, bà cứ bán cho tôi đi. Sau này bà có về thăm Việt Nam thì cứ qua đây ở không phải ngại gì cả. Tôi mua căn nhà này cũng chưa ở đây mà là để tôi dưỡng già ấy mà.
Bà Xuân đáp: Rồi thế để mai tôi với ông ra Văn phòng công chứng gần đây để làm hợp đồng vậy.
Ông Trung nói: Thế thì còn gì bằng.
Cảnh 2: Tại Văn phòng công chứng, khi bà Xuân và ông Trung vào thấy anh Bình đang ngồi trên bàn làm việc thì tiến lại gần hỏi: Chào anh, chúng tôi muốn làm thủ tục mua bán nhà thì cần gặp ai hả anh?
Anh Bình đừng lên kéo ghế cho hai ông bà ngồi rồi cười nói: Cháu chào hai bác, mời hai bác ngồi. Hai bác hôm nay đến làm thủ tục mua bán nhà phải không ạ. Mời hai bác uống nước, có gì hai bác cứ nói với cháu. Cháu là công chứng viên của Văn phòng bác ạ.
Bà Xuân nói: Cám ơn anh. Chúng tôi cũng có tìm hiểu qua thấy bảo muốn mua bán nhà cửa thì phải đi làm thủ tục công chứng hợp đồng gì đó. Nên hôm nay đến nhờ anh tư vấn giúp chúng tôi soạn thảo cái hợp đồng ấy mà.
Anh Bình cười nói: Dạ vâng, thế hôm nay bác có mang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Giấy chứng minh nhân dân không ạ? Bác đưa cháu để cháu xem qua rồi cháu giúp bác ạ.
Bà Xuân lấy trong túi ra Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Giấy chứng nhân dân, đưa anh Bình rồi nói: Tôi có mang theo cả đây. Đây tôi gửi anh.
Sau khi cầm các giấy tờ bà Xuân gửi, anh Bình đọc qua rồi hỏi: Bác ạ. Trong giấy chứng nhận có ghi tên bác và tên của một người tên là Tiến. Bác cho hỏi anh ấy có quan hệ gì với bác.
Bà Xuân nói: Đó là con trai tôi.
Anh Bình vội nói: Thế hôm nay con trai bác không đi cùng bác ạ.
Bà Xuân đáp: À nó giờ đang ở nước ngoài rồi.
Anh Bình nói: Thế anh ấy có giấy tờ gì ủy quyền cho bác bán căn nhà này không ạ?
Bà Xuân nói: Không, tôi thấy nó bảo bán thì tôi bán thôi.
Anh Bình trầm ngâm nói: Thế này bác ạ. Để làm hợp đồng chuyển nhượng này ngôi nhà này thì đòi hỏi những người có tên trong Giấy chứng nhận đều phải đồng ý, cùng ký tên trong hợp đồng hoặc có giấy ủy quyền cho bác ký. Do vậy, bác cần liên lạc với anh Tiến để trao đổi về vấn đề này nhé.
Bà Xuân ngơ ngác nói: Thế à anh. Vậy để tôi liên lạc nó xem. Nó có cho tôi cái nick này để tôi gọi nó qua mạng. Đây để gọi và bật loa cho anh trao đổi với nó.
Sau khi bà Xuân gọi thì có tiếng nói cất lên từ đầu dây bên kia: Mẹ ạ. Có chuyện gì thế mẹ.
Bà Xuân nói: À mẹ đang ở Văn phòng công chứng để làm thủ tục bán nhà nhưng người ta nói là thiếu thủ tục, giấy tờ. Đây con nói chuyện với anh công chứng viên để anh ấy nói cho rõ nhé.
Cầm lấy máy, anh Bình nói: Dạ vâng, chào anh. Chuyện là thế này, do anh có tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nhà mình nên theo  quy định của pháp luật, muốn bán cả căn nhà thì anh phải về Việt Nam để cùng ký vào hợp đồng hoặc có giấy ủy quyền cho mẹ anh ký. Do bác nói không có giấy ủy quyền của anh nên anh cố gắng thu xếp  về Việt Nam sớm để mình bán được căn nhà cho đúng luật.
Anh Tiến nói: Khó nhỉ, bên này tôi lại đang bận công việc chưa biết khi nào về được. Thế có cách nào để tôi không phải về Việt Nam mà vẫn bán được căn nhà không anh ?
Anh Bình nói: Nếu thế thì có một cách này. Theo khoản 2 Điều 55 Luật Công chứng năm 2014 thì: “Trong trường hợp bên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng thì bên ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng hợp đồng ủy quyền; bên được ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng tiếp vào bản gốc hợp đồng ủy quyền này, hoàn tất thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền.”. Do anh đang ở nước ngoài nên theo quy định tại khoản 1 Điều 78 Luật Công chứng năm 2014, anh có thể đến cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự của mình ở bên đó để thực hiện ủy quyền cho bác gái ở nhà. Sau khi công chứng ở bên đó xong, anh gửi bản gốc hợp đồng ủy quyền cho bác gái để bác mang ra Văn phòng công chứng tiếp là được.
Anh Tiến vui vẻ đáp: Cảm ơn anh quá. Có gì tôi sẽ làm sớm để gửi.
Anh Bình đáp: Không có gì anh ạ. Đây cũng là trách nhiệm của tôi.
Anh Bình đưa máy cho bác Xuân, bác Xuân vội nói: May quá! Có gì con gửi Giấy ủy quyền sớm nhé để còn kịp giao nhà cho bác Trung.
Anh Tiến: Vâng mẹ ạ.
Sau khi nghe hết cuộc đối thoại, ông Trung hồ hởi nói: Đúng là giờ tiện thật đấy. Đến công chứng hợp đồng cũng có thể làm "từ xa" như vậy được. Pháp luật ngày càng tạo điều kiện cho người dân thực hiện quyền của mình. Thật đúng là tiện cả đôi đường bác Xuân nhỉ !
Cả ba người cùng cười vui vẻ
Nguồn: Moj.gov.vn
 

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Tin mới

















 

Thăm dò ý kiến

Đánh giá thái độ phục vụ của công chức Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ

Thoải mái, dễ chịu, vui vẻ

Hướng dẫn tận tình, chu đáo

Hướng dẫn thờ ơ, qua loa

Ý kiến khác

Phóng sự giao trả hồ sơ tận nhà trên lĩnh vực Hộ tịch