Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng nhì

UBND xã  Tam Ngọc dẫn đầu phong trào thi đua năm 2017

UBND phường Hòa Thuận dẫn đầu phong trào thi đua Quý 3 năm 2018





















 

:::Thống kê:::

  • Đang truy cập: 37
  • Khách viếng thăm: 34
  • Máy chủ tìm kiếm: 3
  • Hôm nay: 10192
  • Tháng hiện tại: 92924
  • Tổng lượt truy cập: 11792409

. Luật Tố cáo: Cụ thể và khả thi

Đăng lúc: Thứ hai - 02/07/2018 07:59 - Người đăng bài viết: Tuphaptamky
CLICK VAO DAY DE THI TIM HIEU PHAP LUAT - GIẢI THƯỞNG 6 TRIỆU ĐỒNG/ĐỢT
Gồm 9 chương với 67 điều, Luật Tố cáo (sửa đổi) vừa được QH thông qua tại Kỳ họp thứ Năm tiếp tục kế thừa Luật Tố cáo năm 2011 và sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung theo hướng cụ thể và khả thi hơn, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền tố cáo, xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong giải quyết tố cáo.

Tiếp tục xác định hai hình thức tố cáo chính thức

Một trong những nội dung được nhiều ĐBQH tập trung thảo luận trong quá trình cho ý kiến về dự án Luật Tố cáo (sửa đổi), đó là hình thức tố cáo. Để xác định rõ trách nhiệm của người tố cáo, tránh tình trạng lợi dụng các hình thức tố cáo để tố cáo tràn lan, cố ý tố cáo sai sự thật, ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của người bị tố cáo, Luật Tố cáo lần này vẫn tiếp tục xác định hai hình thức tố cáo như quy định của Luật Tố cáo năm 2011, đó là tố cáo bằng đơn và tố cáo trực tiếp.

Xác định tiếp nhận, xử lý thông tin ban đầu là bước quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền quyết định thụ lý hay không thụ lý giải quyết tố cáo, Luật quy định cụ thể việc tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn tố cáo, bảo đảm cho việc xử lý được thực hiện một cách chặt chẽ. Theo đó, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo có trách nhiệm tổ chức việc tiếp nhận tố cáo. Luật cũng quy định trách nhiệm vào sổ, phân loại, xử lý ban đầu thông tin tố cáo, kiểm tra, xác minh thông tin về người tố cáo và điều kiện thụ lý tố cáo; xử lý hành vi bị tố cáo có dấu hiệu của tội phạm.

Các ĐBQH bấm nút biểu quyết thông qua Luật Tố cáo (sửa đổi) Ảnh: Lâm Hiển

Trong xử lý đối với thông tin tố cáo, Luật Tố cáo lần này có một số điểm mới. Một là, đối với đơn tố cáo được gửi đến nhiều nơi, Khoản 3, Điều 24 quy định: Trường hợp tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình và được gửi đồng thời cho nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân, trong đó có cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết, hoặc trường hợp đã hướng dẫn nhưng người tố cáo vẫn gửi tố cáo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân không có thẩm quyền giải quyết thì cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận được tố cáo không xử lý. “Quy định này nhằm tránh tình trạng người tố cáo gửi đơn tố cáo tràn lan, vượt cấp, đồng thời bảo đảm tính hiệu quả cho các cơ quan, tổ chức trong việc xử lý đối với tố cáo không thuộc thẩm quyền”, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Nguyễn Văn Thanh cho biết.

Hai là, đối với tố cáo nặc danh, mạo danh, Điều 25 quy định: Khi nhận được thông tin có nội dung tố cáo nhưng không rõ họ tên, địa chỉ của người tố cáo, hoặc qua kiểm tra, xác minh không xác định được người tố cáo hoặc người tố cáo sử dụng họ tên của người khác để tố cáo, hoặc thông tin có nội dung tố cáo được phản ánh không theo hình thức quy định tại Điều 22 của Luật, thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không xử lý theo định của Luật Tố cáo.

Trường hợp thông tin có nội dung tố cáo có nội dung rõ ràng về người có hành vi vi phạm pháp luật, có tài liệu, chứng cứ cụ thể về hành vi vi phạm pháp luật và có cơ sở để thẩm tra, xác minh thì cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tiến hành việc thanh tra, kiểm tra theo thẩm quyền hoặc chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để tiến hành việc thanh tra, kiểm tra phục vụ cho công tác quản lý.

Trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo bắt đầu từ khâu thụ lý tố cáo

Nếu như Luật Tố cáo năm 2011 quy định trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo bắt đầu từ khâu tiếp nhận tố cáo, thì Luật 2018 quy định trình tự, thủ tục này bắt đầu từ khâu thụ lý tố cáo. Đây cũng là thời điểm bắt đầu để tính thời hạn giải quyết tố cáo. Cụ thể, Luật quy định 4 bước trong quy trình giải quyết tố cáo, gồm: Thụ lý tố cáo; xác minh nội dung tố cáo; kết luận nội dung tố cáo; và xử lý kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo.

Luật đã bổ sung một số quy định mới nhằm quy định chi tiết, cụ thể hơn trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo, như bổ sung quy định về điều kiện thụ lý tố cáo. Sửa đổi quy định về thời hạn giải quyết tố cáo, Luật quy định, thời hạn giải quyết tố cáo là không quá 30 ngày kể từ ngày thụ lý tố cáo. Đối với vụ việc phức tạp thì có thể gia hạn giải quyết tố cáo một lần, nhưng không quá 30 ngày. Đối với vụ việc đặc biệt phức tạp, thì có thể gia hạn giải quyết tố cáo hai lần, mỗi lần không quá 30 ngày.

Bổ sung quy định về rút tố cáo, Luật quy định người tố cáo có quyền rút toàn bộ nội dung tố cáo hoặc một phần nội dung tố cáo trước khi người giải quyết tố cáo ra kết luận nội dung tố cáo. Việc rút tố cáo phải được thực hiện bằng văn bản. Luật cũng quy định cụ thể việc xử lý đối với các trường hợp rút tố cáo, như rút toàn bộ, rút một phần, rút tố cáo trong trường hợp nhiều người cùng tố cáo, trong trường hợp người tố cáo bị đe dọa, mua chuộc hoặc người tố cáo lợi dụng việc tố cáo để vu khống, xúc phạm, gây thiệt hại cho người bị tố cáo.

Bổ sung quy định về tạm đình chỉ giải quyết tố cáo, đình chỉ việc giải quyết tố cáo, Luật quy định cụ thể các căn cứ để tạm đình chỉ hoặc đình chỉ.

Luật cũng quy định cụ thể về việc tố cáo tiếp, việc xử lý đối với tố cáo tiếp và các căn cứ để giải quyết lại vụ việc tố cáo, nhằm bảo đảm nguyên tắc: Mọi hành vi vi phạm đều được giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, tránh tình trạng bao che vi phạm cũng như tố cáo tràn lan, vượt cấp.

Dành một chương quy định về bảo vệ người tố cáo

Việc bảo vệ người tố cáo nhằm khuyến khích, động viên người dân dũng cảm đấu tranh chống lại các hành vi tham nhũng, tiêu cực, vi phạm pháp luật, giúp các cơ quan nhà nước phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật. Hơn nữa, bảo vệ người tố cáo là trách nhiệm của Nhà nước, là sự thể hiện cụ thể và sinh động bản chất của Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Trên cơ sở kế thừa, phát triển các quy định về bảo vệ người tố cáo của Luật Tố cáo năm 2011 và Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 3.10.2012 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tố cáo, Luật lần này đã dành một chương - Chương VI, quy định về bảo vệ người tố cáo. Theo đó, Luật quy định cụ thể các vấn đề cơ bản, như người được bảo vệ, bao gồm người tố cáo, vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người tố cáo. Phạm vi bảo vệ bao gồm bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo; bảo vệ vị trí công tác, việc làm, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ. Luật giao trách nhiệm bảo vệ trước hết thuộc về cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo. Bên cạnh đó, các cơ quan khác, trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình cũng có trách nhiệm bảo vệ người tố cáo và những người thân thích của họ. Đó là cơ quan tiếp nhận, xác minh nội dung tố cáo; cơ quan công an; cơ quan quản lý nhà nước về cán bộ, công chức, viên chức, lao động; UBND các cấp, công đoàn các cấp…

Với những sửa đổi, bổ sung cụ thể, có hiệu quả nêu trên, Luật Tố cáo đã thể hiện rõ nét hơn tinh thần mới của Hiến pháp 2013 về quyền tố cáo với góc độ là quyền con người. Đồng thời quy định cụ thể việc bảo vệ người tố cáo, trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong giải quyết tố cáo… thiết thực góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng cũng như hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Anh Phương
Nguồn:Daibieunhandan.vn
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Tin mới

















 

Thăm dò ý kiến

Đánh giá thái độ phục vụ của công chức Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ

Thoải mái, dễ chịu, vui vẻ

Hướng dẫn tận tình, chu đáo

Hướng dẫn thờ ơ, qua loa

Ý kiến khác

Phóng sự giao trả hồ sơ tận nhà trên lĩnh vực Hộ tịch