Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng nhì

UBND xã  Tam Ngọc dẫn đầu phong trào thi đua năm 2017

UBND phường Hòa Thuận dẫn đầu phong trào thi đua Quý 3 năm 2018





















 

:::Thống kê:::

  • Đang truy cập: 31
  • Hôm nay: 8333
  • Tháng hiện tại: 185373
  • Tổng lượt truy cập: 12150864

Bản tin phổ biến giáo dục pháp luật số 4/2018

Đăng lúc: Thứ hai - 14/01/2019 14:29 - Người đăng bài viết: Tuphaptamky
CLICK VAO DAY DE THI TIM HIEU PHAP LUAT - GIẢI THƯỞNG 6 TRIỆU ĐỒNG/ĐỢT
LỜI NÓI ĐẦU Thời gian qua, công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trên địa bàn thành phố đã được triển khai thường xuyên, đồng bộ từ thành phố đến xã phường, thôn khối phố bằng nhiều hình thức khác nhau, qua đó đã kịp thời thông tin, tuyên truyền các chính sách pháp luật tới cán bộ và nhân dân.
Nhằm tiếp tục đa dạng hóa công tác phổ biến giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này đối với cán bộ và nhân dân, UBND thành phố đã chỉ đạo Phòng Tư pháp – cơ quan thường trực của Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật thành phố biên soạn tài liệu tuyên truyền để phục vụ cho công tác phổ biến giáo dục pháp luật..
Việc biên soạn tài liệu này, chúng tôi tham khảo nhiều tập san khác nhau ở trong và ngoài tỉnh. Tuy nhiên để phù hợp với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, đoàn viên, hội viên các đoàn thể và nhân dân trên địa bàn thành phố, chúng tôi rất mong  nhận được sự góp ý để tài liệu này thực sự cần thiết và hữu ích cho các phòng ban, ngành đoàn thể và địa phương.
Mọi góp ý xin gửi về địa chỉ:
Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ
70 Hùng Vương, Tam Kỳ, Quảng Nam
Điện thoại: 0235.3 851.772
Website: Http://tuphaptamky.gov.vn
 Email: tuphaptamky@yahoo.com.vn
Facebook: tuphaptamky
Fanpage: https://www.facebook.com/tuphaptamky.gov.vn/

PHẦN I
VĂN BẢN CHÍNH SÁCH MỚI
(Tổng hợp các văn bản được ban hành từ 01/10/2018-31/12/2018)
------
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
TRUNG ƯƠNG BAN HÀNH TRONG QUÝ IV
TỪ NGÀY 01/10 ĐẾN NGÀY 27/12  NĂM 2018
I. VĂN BẢN TRUNG ƯƠNG
1. Luật Phòng chống, tham nhũng năm 2018
Sáng 20/11/2018, với 93,2% tổng số đại biểu Quốc hội tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi).
Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) được thông qua tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV gồm gồm 10 chương, 96 điều.
Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) quy định về phòng ngừa, phát hiện tham nhũng; xử lý tham nhũng và hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2019. Luật Phòng, chống tham nhũng số 55/2005/QH11 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 01/2007/QH12 và Luật số 27/2012/QH13 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
2. Luật Công an nhân dân năm 2018
Sáng 20/11/2018, với 85,77% tổng số đại biểu Quốc hội tán thành, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Công an Nhân dân (sửa đổi), có hiệu lực từ ngày 1/7/2019.
Theo đó, Luật quy định Bộ trưởng Bộ Công an có bậc hàm cao nhất là Đại tướng; các Thứ trưởng Bộ Công là là Thượng tướng, những không quá 6 người; số lượng Trung tướng không quá 35 và không quá 157 Thiếu tướng.
3. Luật Cảnh sát biển Việt Nam năm 2018
Chiều nay 19-11-2018, Quốc hội đã thông qua Luật Cảnh sát biển Việt Nam. Theo đó, có 467/468 ĐBQH (chiếm 96,29%) tham gia biểu quyết thông qua Luật Cảnh sát biển Việt Nam.
4. Luật Đặc xá năm 2018
Chiều nay 19.11.2018, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Đặc xá (sửa đổi).
Với 451 đại biểu có mặt tán thành, bằng 92,99% tổng số đại biểu, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật Đặc xá.
Luật Đặc xá năm 2018 gồm 6 Chương, 39 Điều, trong đó có những quy định đáng chú ý như điều kiện được đề nghị đặc xá và người được đặc xá trong trường hợp đặc biệt.
5. Luật Chăn nuôi năm 2018
   Chiều ngày 19/11/2018, với 454 đại biểu có mặt tán thành, bằng 93,61% tổng số số đại biểu, Quốc hội đã thông qua Luật Chăn nuôi.
Luật Chăn nuôi gồm 8 Chương 83 Điều với nhiều nội dung đáng chú ý.
6. Luật Trồng trọt năm 2018
   Chiều ngày 19/11/2018, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Trồng trọt với 455 đại biểu có mặt tán thành, bằng 93,81% tổng số đại biểu Quốc hội.
Luật Trồng trọt năm 2018, Gồm 7 chương, 85 điều, Luật Trồng trọt quy định về hoạt động trồng trọt; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân hoạt động trồng trọt; quản lý nhà nước về trồng trọt.

7. Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018

   Chiều 15/11/2018, với 444/447 đại biểu có mặt tán thành (chiếm 91,55% tổng số đại biểu), Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước.
Theo đó, thông tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước phải là thông tin quan trọng, chưa được công khai, nếu bị lộ, bị mất có thể gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.
Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước còn quy định căn cứ tính chất quan trọng của nội dung thông tin, mức độ nguy hại nếu bị lộ, bị mất, bí mật nhà nước được phân loại thành 3 độ mật: Tuyệt mật, tối mật và mật.

8. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2018

   Chiều ngày 19/11/2018, với 408/456 đại biểu tán thành thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học, chiếm tỷ lệ 84,12%.
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày  01 tháng  07  năm 2019.

9. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 Luật liên quan đến quy hoạch

   Sáng 20/11, với đa số đại biểu Quốc hội tán thành, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 Luật liên quan đến quy hoạch. Trong đó chính thức bãi bỏ quy hoạch xây dựng tỉnh mà tích hợp nội dung này vào Quy hoạch tỉnh.
10. Trường mầm non ở thành phố có diện tích tối thiểu 8m2/trẻ
Ngày 04/10/2018, Chính phủ ban hành Nghị định 135/2018/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 46/2017/NĐ-CP về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, có hiệu lực 20/11/2018.
Theo đó, trường mẫu giáo, mầm non và nhà trẻ được đặt tại khu dân cư bảo đảm các quy định về an toàn và vệ sinh môi trường.
Về diện tích xây dựng, các trường nêu trên phải đảm bảo diện tích bình quân tối thiểu 12m2 cho một trẻ em đối với khu vực đồng bằng, trung du và 08m2 cho một trẻ đối với khu vực thành phố, thị xã, núi cao và hải đảo.
Đối với các lớp mẫu giáo độc lập tư thục, yêu cầu đặt ra là phải có giáo viên trình độ đạt chuẩn; có diện tích phòng nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ ít nhất 1,5m2  cho một trẻ, có chỗ chơi, có hàng rào và cổng bảo vệ an toàn cho trẻ em; Có chiếu hoặc thảm ngồi chơi, giường ngủ và chăn gối màn để ngủ…
Tại những nơi chưa có mặng lưới trường mầm non đáp ứng yêu cầu, các cá nhân có thể tổ chức nhóm trẻ nhưng phải đăng ký hoạt động với UBND xã, số lượng trẻ em trong các nhóm trẻ này tối đa chỉ là 07 trẻ.
   11. Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018-2025

   Ngày 03/10/2018, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1299/QĐ-TTg  Phê duyệt Đề án “Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018 – 2025″, theo đó:

Mục tiêu chung: Tăng cường xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học nhằm tạo chuyển biến căn bản về ứng xử  văn hóa của cán bộ quản lý, nhà giáo, nhân viên, học sinh, sinh viên để phát triển năng lực , hoàn thiện nhân cách, lối sống văn hóa; xây dựng văn hóa trường học lành mạnh, thân thiện; nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo; góp phần xây dựng con người Việt Nam: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cụ, sáng tạo.
 
   12. Những lĩnh vực được ưu tiên sử dụng vốn ODA
   Ngày 01/10/2018, Chính phủ ban hành Nghị định 132/2018/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 16/2016/NĐ-CP về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài.
Theo đó, những lĩnh vực được ưu tiên sử dụng vốn ODA bao gồm:
- Hạ tầng giao thông, hạ tầng xã hội (y tế, giáo dục, giáo dục nghề nghiệp), phát triển đô thị thông minh, thủy lợi;
- Nghiên cứu, xây dựng chính sách, thể chế và cải cách;
- Phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao tri thức và phát triển công nghệ;
- Giải quyết ô nhiễm và nâng cao chất lượng môi trường; phòng, chống giảm nhẹ rủi ro thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh;
- Sử dụng làm nguồn vốn đầu tư của Nhà nước tham gia các dự án theo hình thức đối tác công tư (PPP);
- Lĩnh vực ưu tiên khác theo quyết định của Thủ tướng.

13. Những trường hợp không được miễn đào tạo nghề luật sư

   Ngày 08/10/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 137/2018/NĐ-CP  Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật luật sư, có hiệu lực thi hành từ ngày 25/11/2018.
   Theo đó những trường hợp sau không được miễn đào tạo nghề luật sư
   Đối với những người đã bị xử lý hình sự hoặc xử lý  kỷ luật đến mức cách chức chức danh thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, kiểm tra viên, thẩm tra viên; tước danh hiệu công an nhân dân, tước quân hàm sĩ quan quân đội nhân dân; tước học hàm, học vị giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật hoặc đã bị thu hồi quyết định bổ nhiệm  vào ngạch chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên chính trong lĩnh vực pháp luật thì không được miễn đào tạo nghề luật sư, miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư  theo quy định tại Điều 13 và Điều 16 của Luật Luật sư.
   14. Rút ngắn thời gian cấp phép lao động cho người nước ngoài
   Ngày 08/10/2018, Chính phủ ban hành Nghị định 140/2018/NĐ-CP, Chính phủ đã sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung của các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh và thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.
   Trong đó, với thủ tục cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài tại Nghị định 11/2016/NĐ-CP, Nghị định mới đã có những điều chỉnh như sau:
   - Rút ngắn thời gian cấp giấy phép từ 07 ngày làm việc xuống còn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Sở Lao động Thương binh và Xã hội nhận đủ hồ sơ.
   - Hồ sơ xin cấp phép lao động chỉ còn yêu cầu bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế còn giá trị, không yêu cầu phải chứng thực như trước đây.
   - Thêm trường hợp tiếp nhận người lao động nước ngoài là thành viên Hội đồng quản trị của công ty cổ phần; thân nhân thành viên cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam làm việc sau khi được Bộ Ngoại giao cấp phép thì người sử dụng lao động không phải xác định nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài.
   15. Mức phạt tiền đối với hành vi bán hàng đa cấp bất chính
   Hành vi bán hàng đa cấp bất chính bị xử lý theo Điều 36 Nghị định 71/2014/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh được sửa đổi theo Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 141/2018/NĐ-CP của Chính phủ : Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp, cụ thể:
   Phạt tiền từ 80 đến 100 triệu đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi sau đây:
   – Yêu cầu người khác phải đặt cọc hoặc nộp một khoản tiền nhất định để được ký hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp;
   – Yêu cầu người khác phải mua một số lượng hàng hóa nhất định để được ký hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp;
   – Cho người tham gia bán hàng đa cấp nhận tiền hoặc lợi ích kinh tế khác từ việc giới thiệu người khác tham gia vào hoạt động bán hàng đa cấp mà không phải từ việc mua, bán hàng hóa của người được giới thiệu đó;
   – Từ chối chi trả không có lý do chính đáng các khoản hoa hồng, tiền thưởng hay lợi ích kinh tế khác mà người tham gia bán hàng đa cấp có quyền hưởng;
   – Cung cấp thông tin gian dối về kế hoạch trả thưởng, về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
   – Cung cấp thông tin gian dối, gây nhầm lẫn về tính năng, công dụng của hàng hóa hoặc hoạt động của doanh nghiệp thông qua báo cáo viên, đào tạo viên tại hội nghị, hội thảo, đào tạo hoặc thông qua tài liệu của doanh nghiệp;
   – Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ mua lại hàng hóa theo quy định của pháp luật.
   Phạt tiền gấp 2 lần vi phạm nêu trên  trong trường hợp vi phạm được thực hiện tại địa bàn 2 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên.
   16. Bỏ quy định không được uống rượu trong phòng karaoke
   Ngày 09/10/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 142/2018/NĐ-CP sửa đổi một số quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
   Theo Nghị định này, điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke đã được nới lỏng hơn so với trước đây. Cụ thể, Nghị định bãi bỏ một loạt các quy định liên quan đến vấn đề này tại Nghị định số 103/2009/NĐ-CP như:
   - Đảm bảo ánh sáng trong phòng trên 10 Lux tương đương 01 bóng đèn sợi đốt 40W cho 20m2;
   - Không được bán rượu hoặc để cho khách uống rượu trong phòng karaoke;
   - Đảm bảo âm thanh vang ra ngoài phòng karaoke không vượt quá quy định của Nhà nước về tiêu chuẩn mức ồn tối đa cho phép;
   - Cửa phòng karaoke phải là cửa kính không màu, bên ngoài nhìn thấy toàn bộ phòng…
Tuy nhiên, các cơ sở kinh doanh karaoke vẫn phải đảm bảo các quy định về sử dụng các bài hát được cho phép và không được hoạt động trong khoảng thời gian từ 12 giờ đêm đến 8 giờ sáng.
   Nghị định này có hiệu lực từ ngày 09/10/2018.

   17. Quy định mới về các trường hợp được tạm hoãn, miễn gọi nhập ngũ

   Các trường hợp được tạm hoãn, miễn gọi nhập ngũ  được quy định tại Thông tư 148/2018/TT-BQP  của Bộ Quốc phòng quy định về tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, có hiệu lực thi hành tư ngày 20/11/2018, cụ thể:

   + Tạm hoãn gọi nhập ngũ đối với những công dân sau đây:

   – Chưa đủ sức khỏe phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khỏe.
   – Là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động; trong gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) xác nhận.
   – Một con của bệnh binh, người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%.
   – Có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ; hạ sĩ quan, chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân.
   – Người thuộc diện di dân, giãn dân trong 03 năm đầu đến các xã đặc biệt khó khăn theo dự án phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trở lên quyết định.
   – Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật.
   – Đang học tại cơ sở giáo dục phổ thông; đang được đào tạo trình độ đại học hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục đại học, trình độ cao đẳng hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong thời gian một khóa đào tạo của một trình độ đào tạo.

   +  Miễn gọi nhập ngũ đối với những công dân sau đây:

   – Con của liệt sĩ, con của thương binh hạng một.
   – Một anh hoặc một em trai của liệt sĩ.
   – Một con của thương binh hạng hai; một con của bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; một con của người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.
   – Người làm công tác cơ yếu không phải là quân nhân, Công an nhân dân.
   – Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật từ 24 tháng trở lên.
18. Tới 2022, người lao động nước ngoài phải đóng 8% BHXH bắt buộc
   Ngày 15/10/2018, Chính phủ ban hành Nghị định 143/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Bảo hiểm xã hội và Luật an toàn, vệ sinh lao động về bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc đối với người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam, có hiệu lực 01/12/2018.
   Theo đó, từ ngày 01/01/2022, hàng tháng người lao động nước ngoài đóng 8% mức tiền lương tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất. Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày trở lên trong tháng thì không đóng BHXH tháng đó, thời gian này không được tính để hưởng BHXH.
Mức đóng BHXH bắt buộc của người sử dụng lao động cho người lao động nước ngoài như sau:
- 3% vào quỹ ốm đau thai sản;
- 0,5% vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
- 14% vào quỹ hưu trí và tử tuất từ ngày 01/01/2022.
   19. Từ năm học 2018 - 2019, thêm một trường hợp được miễn học phí
   Ngày 16/10/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 145/2018/NĐ-CP : Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015 – 2016 đến năm học 2020 – 2021, có hiệu lực từ ngày 01/12/2018.

Theo đó, bổ sung đối tượng trẻ em học lớp mẫu giáo 5 tuổi được miễn học phí, cụ thể:

   Trẻ em học lớp mẫu giáo 5 tuổi ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, có cha mẹ, hoặc có cha hoặc có mẹ hoặc có người chăm sóc trẻ em thường trú ở thôn, xã  đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển, hải đảo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ và cấp có thẩm quyền.
 20. Sản phẩm CNTT đã qua sử dụng cấm nhập khẩu
   Ngày 15/10/2018, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Thông tư 11/2018/TT-BTTTT công bố chi tiết Danh mục sản phẩm công nghệ thông tin đã qua sử dụng cấm nhập khẩu kèm theo mã số HS, có hiệu lực 30/11/2018.
   Theo đó, danh mục sản phẩm công nghệ thông tin đã qua sử dụng cấm nhập khẩu bao gồm:
- Mặt hàng máy in sử dụng các bộ phận in như khuôn in (bát chữ), trục lăn và các bộ phận in của nhóm 84.42; máy in khác, máy copy (copying machines) và máy fax, có hoặc không kết hợp với nhau; bộ phận và các phụ kiện của chúng: Nhóm 8443;
- Bộ điện thoại, kể cả điện thoại cho mạng di động tế bào hoặc mạng không dây khác; thiết bị khác để truyền hoặc nhận tiếng, hình ảnh hoặc dữ liệu khác, kể cả các thiết bị viễn thông nối mạng hữu tuyến hoặc không dây (như loại sử dụng trong mạng nội bộ hoặc mạng diện rộng), trừ loại thiết bị truyền hoặc thu của nhóm 84.43, 85.25. 85.27 hoặc 85.28: Nhóm 85.17;
- Dây điện, cáp điện (kể cả cáp đồng trục) có cách điện (kể cả loại đã tráng men cách điện hoặc mạ lớp cách điện) và dây dẫn có cách điện khác, đã hoặc chưa gắn với đầu nối; cáp sợi quang, làm bằng các bó sợi đơn có vỏ bọc riêng biệt từng sợi, có hoặc không gắn với dây dẫn điện hoặc gắn với đầu nối: Nhóm 85.44…
   21. Mức giá cước tối đa dịch vụ bưu chính phổ cập
   Ngày 15/10/2018, Bộ Thông tin và truyền thông ban hành Thông tư 12/2018/TT-BTTTT quy định về mức giá cước tối đa dịch vụ bưu chính phổ cập , theo đó, mức giá cước tối đa dịch vụ thư cơ bản (gồm cả bưu thiếp) trong nước cho lần lượt các nấc khối lượng đến 20g; trên 20g đến 100g; trên 100g đến 250g là 4.000 đồng; 6.000 đồng; 8.000 đồng. Mỗi 250g tiếp theo đến 2000g là 2.000 đồng.
Mức giá cước tối đa cho dịch vụ thư cơ bản từ Việt Nam đi các nước dao động từ 15.000 đồng - 23.000 đồng ở nấc khối lượng 20g tùy thuộc vào quốc gia và vùng lãnh thổ…
            22. Liên thông TTHC khai tử, xóa thường trú, hưởng chế độ tử tuất, mai táng phí
   Ngày 18/10/2018, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1380/QĐ-TTg  Phê duyệt “Đề án thực hiện liên thông các thủ tục hành chính: Đăng ký khai tử, xóa đăng ký thường trú, hưởng chế độ tử tuất/ hỗ trợ chi phí mai táng/ hưởng mai táng phí”, theo đó:
   Đề án nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức, hộ gia đình trong thực hiện thủ tục hành chính, từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ thuộc các lĩnh vực hộ tịch, cư trú, bảo hiểm xã hội, lao động, thương binh và xã hội góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong các lĩnh vực này.
Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ trong quy trình liên thông. Trường hợp hồ sơ chưa đúng, chưa đủ theo quy định thì hướng dẫn bằng phiếu (theo mẫu quy định) cụ thể một lần, đầy đủ để công dân bổ sung, hoàn chỉnh.
   23. Người sử dụng lao động phải tự kiểm tra pháp luật về lao động
   Ngày 17/10/2018, Bộ LĐ-TB&XH ban hành Thông tư 17/2018/TT-BLĐTBXH quy định về tự kiểm tra việc thực hiện pháp luật lao động của doanh nghiệp.
   Theo đó, doanh nghiệp phải tổ chức tự kiểm tra việc chấp hành pháp luật lao động ít nhất mỗi năm 01 lần nhằm đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật lao động và có giải pháp cải tiến tuân thủ.
- Thời gian kiểm tra: Do doanh nghiệp quyết định;
- Thời kỳ kiểm tra: Từ ngày đầu tiên tháng một dương lịch của năm trước đến thời điểm kiểm tra;
- Nội dung tự kiểm tra: Việc thực hiện báo cáo định kỳ; tuyển dụng và đào tạo lao động; giao kết và thực hiện hợp đồng lao động...;
24. Quy định mới về tiền lương ngày nghỉ lễ
   Ngày 24/10/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định 148/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động, có hiệu lực 15/12/2018.
   Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định này là quy định mới về tiền lương làm căn cứ để trả cho người lao động trong ngày nghỉ hàng năm, ngày nghỉ hàng năm tăng thêm theo thâm niên, ngày nghỉ lễ, tết và ngày nghỉ việc riêng có hưởng lương.
   Cụ thể, trong các ngày nghỉ nêu trên, tiền lương được tính như sau: Tiền lương theo hợp đồng lao động chia cho số ngày làm việc bình thường trong tháng theo quy định của người sử dụng lao động, nhân với số ngày ngày lao động nghỉ.
   Trước đây, tại Nghị định 05/2015/NĐ-CP, tiền lương ghi trong hợp đồng lao động được quy định cụ thể là tiền lương của tháng trước liền kề.
   25. Vay vốn trồng cây lâu năm được thỏa thuận ân hạn nợ gốc
   Ngày 24/10/2018, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành  Thông tư 25/2018/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung Thông tư 10/2015/TT-NHNN hướng dẫn Nghị định 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, có hiệu lực 10/12/2018.
   Theo đó, Khách hàng vay để trồng, chăm sóc, tái canh cây lâu năm, tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận thời gian ân hạn nợ gốc và lãi phù hợp với giai đoạn kiến thiết của cây trồng lâu năm.
   Thời gian ân hạn là khoảng thời gian tính từ khi tổ chức bắt đầu giải ngân vốn vay đến khi khách hàng bắt đầu trả nợ gốc và lãi được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
   26. Quy định mới về mức đóng bảo hiểm y tế
   Chính phủ vừa ban hành Nghị định 146/2018/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật bảo hiểm y tế, trong đó quy định mức đóng bảo hiểm y tế.
   Cụ thể, mức đóng bảo hiểm y tế hằng tháng của các đối tượng được quy định bằng 4,5% tiền lương tháng của người lao động đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người quản lý doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập và người quản lý điều hành hợp tác xã hưởng tiền lương; cán bộ, công chức, viên chức...
27. Tiếp tục nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính
    Ngày 30/10/2018, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 30/CT-TTg  về nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính tại các bộ, ngành, địa phương, theo đó Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương khẩn trương:
   – Chấn chỉnh việc giải quyết thủ tục hành chính tại cơ quan, đơn vị mình, hạn chế tối đa việc người dân, doanh nghiệp phải đi lại nhiều lần. Thường xuyên đôn đốc, kiểm tra việc giải quyết thủ tục hành chính, khắc phục tình trạng thiếu công khai, minh bạch thông tin về thủ tục hành chính. Nghiêm túc xử lý các phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định thủ tục hành chính; khắc phục tình trạng quá hạn trong giải quyết thủ tục hành chính; thực hiện nghiêm việc xin lỗi cá nhân, tổ chức khi xảy ra tình trạng chậm, muộn trong giải quyết thủ tục hành chính.
   – Triển khai đánh giá việc giải quyết thủ tục hành chính và đánh giá mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với việc giải quyết thủ tục hành chính tại Bộ phận Một cửa các cấp, bảo đảm thực chất, tránh hình thức; kịp thời động viên, khen thưởng cán bộ, công chức, viên chức được đánh giá cao trong giải quyết thủ tục hành chính và xử lý nghiêm, thay thế cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm quy định; đề xuất chế độ chính sách, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, kỹ năng ứng xử, giao tiếp, làm chủ các ứng dụng công nghệ thông tin cho cán bộ, công chức, viên chức tại Bộ phận một cửa các cấp.
   28. Bảo đảm cơ sở vật chất cho giáo dục mầm non, phổ thông
Ngày 29/10/2018, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1436/QĐ-TTg  phê duyệt Đề án bảo đảm cơ sở vật chất cho chương trình giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông giai đoạn 2017 - 2025.
   Theo đó, mục tiêu của Đề án nhằm bảo đảm điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị trường học để thực hiện chương trình giáo dục mầm non và chương trình giáo dục phổ thông theo lộ trình đổi mới chương trình, sách giáo khoa.
   29. Vì sự phát triển toàn diện của trẻ em
   Ngày 29/10/2018, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1437/QĐ-TTg phê duyệt  Đề án chăm sóc vì sự phát triển toàn diện trẻ em trong những năm đầu đời tại gia đình và cộng đồng giai đoạn 2018 - 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với mục tiêu của Đề án bảo đảm cho trẻ em đến 8 tuổi được phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần; được bình đẳng tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ chăm sóc phát triển toàn diện theo độ tuổi nhằm thực hiện các quyền của trẻ em, góp phần phát triển nguồn nhân lực quốc gia.
   30. Quy định mới về chế độ phụ cấp ưu đãi với giáo viên trường công lập
   Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư 27/2018/TT-BGDĐT sửa đổi một số Thông tư liên tịch về chế độ phụ cấp ưu đãi đối với giáo viên trực tiếp giảng dạy trong các cơ sở giáo dục công lập, có hiệu lực 10/12/2018, theo đó:
   Giáo viên đang trực tiếp giảng dạy trong các cơ sở giáo dục công lập ngoài được xếp vào các ngạch viên chức chuyên ngành giáo dục, đào tạo (các ngạch có 02 chữ số đầu của mã số ngạch là 15) như quy định trước đây tại Thông tư liên tịch 68/2011/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC-BLĐTBXH, còn có thể được xếp vào các hạng viên chức chuyên ngành giáo dục, đào tạo (các hạng có các ký tự đầu của mã số hạng là V.07).
   31. 7 dịch vụ y tế về HIV/AIDS được BHYT chi trả
   Bộ Y tế vừa ban hành  Thông tư 27/2018/TT-BYT hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế (BHYT) và khám chữa bệnh BHYT liên quan đến HIV/AIDS, có hiệu lực 01/01/2019.
   Theo đó, người tham gia BHYT nhiễm HIV khi sử dụng các dịch vụ y tế liên quan đến HIV/AIDS sau sẽ được Quỹ BHYT chi trả:
- Thuốc kháng HIV;
- Xét nghiệm HIV trong khám, chữa bệnh đối với người phụ nữ trong thời kỳ mang thai và sinh con theo yêu cầu chuyên môn nếu không được các nguồn kinh phí khác chi trả;
- Kỹ thuật đình chỉ thai nghén ở phụ nữ mang thai nhiễm HIV;
- Khám bệnh, xét nghiệm HIV, thuốc kháng vi rút HIV và dịch vụ khám, chữa bệnh khác liên quan đến HIV/AIDS đối với trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV;
- Xét nghiệm HIV theo yêu cầu chuyên môn trong khám, chữa bệnh;
- Xét nghiệm HIV, điều trị bằng thuốc kháng HIV đối với người phơi nhiễm với HIV, người nhiễm HIV do tai nạn rủi ro;
- Điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội.
32. Doanh nghiệp phải công khai việc đóng BHXH, BHYT
   Ngày 07/11/2018, Chính phủ ban hành Nghị định 149/2018/NĐ-CP quy định chi tiết khoản 3 Điều 63 Bộ luật Lao động về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc, có hiệu lực 01/01/2019, theo đó:
Người sử dụng lao động phải công khai 07 nội dung sau:
- Việc trích nộp kinh phí công đoàn, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp;
- Việc trích lập, sử dụng quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi và các quỹ do người lao động đóng góp (nếu có);
- Tình hình thực hiện thi đua, khen thưởng, kỷ luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động;
- Tình hình thực hiện nhiệm vụ, sản xuất, kinh doanh;
- Nội quy, quy chế và các văn bản quy định khác của doanh nghiệp liên quan đến nghĩa vụ, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động;
- Thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành, thỏa ước lao động tập thể khác mà doanh nghiệp tham gia;
- Nghị quyết Hội nghị người lao động.
   33. Chính sách lương hưu đối với lao động nữ nghỉ hưu từ 2018-2021
   Ngày 07/11/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 153/2018/NĐ-CP  Quy định chính sách điều chỉnh lương hưuđối với lao động nữ bắt đầu hưởng lương hưu trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2021 có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 20 năm đến 29 năm 6 tháng, có hiệu lực từ ngày 24/12/2018, theo đó:
Lao động nữ bắt đầu hưởng lương hưu từ ngày 1/1/2018 đến ngày 31/12/2021 mà có từ đủ 20 năm đến 29 năm 6 tháng tùy thuộc vào thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội và thời điểm bắt đầu hưởng lương hưu, mức lương hưu được điều chỉnh bằng mức lương hưu tính theo quy định tại khoản 2 Điều 56 hoặc khoản 2 Điều 74 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014cộng với mức điều chỉnh theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định 153/2018/NĐ-CP.
   34. Đơn giản hóa điều kiện kinh doanh lĩnh vực thông tin và truyền thông
Ngày 07/11/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 150/2018/NĐ-CP sửa đổi một số Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh và thủ tục hành chính trong lĩnh vực thông tin và truyền thông, có hiệu lực 24/12/2018, theo đó:
    Nghị định số 150/2018/NĐ-CP sửa đổi điều kiện thành lập và bảo đảm hoạt động của nhà xuất bản quy định tại Nghị định số 195/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xuất bản. Theo đó, thay vì quy định cụ thể điều kiện trụ sở của nhà xuất bản có diện tích từ 200 m2 sử dụng trở lên, Nghị định 150 chỉ quy định, trụ sở của nhà xuất bản có diện tích phù hợp, đáp ứng quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc.
Nghị định số 150/2018/NĐ-CP cũng đơn giản hóa điều kiện hoạt động xuất bản, phát hành xuất bản phẩm điện tử đã được quy định tại Nghị định số 195/2013/NĐ-CP. Theo đó, điều kiện về thiết bị, công nghệ để xuất bản, phát hành xuất bản phẩm điện tử được sửa đổi như sau: Có máy chủ đặt tại Việt Nam; có thiết bị, phần mềm phục vụ việc thiết kế, dàn trang, ghi dữ liệu trên các phương tiện điện tử...
35. Chế độ đối với huấn luyện viên, vận động viên thể thao
   Ngày 07/11/2018, Chính phủ ban hành Nghị định 152/2018/NĐ-CP quy định một số chế độ đối với huấn luyện viên, vận động viên thể thao trong thời gian tập trung tập huấn, thi đấu, có hiệu lực 24/12/2018.
Nghị định 152 quy định rõ về tiền lương; tiền hỗ trợ tập huấn, thi đấu; bảo hiểm xã hội; bảo hiểm y tế; bảo hiểm thất nghiệp; bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; bảo hiểm khi tập huấn, thi đấu ở nước ngoài và tiền thưởng theo thành tích thi đấu đối với huấn luyện viên, vận động viên thể thao trong thời gian tập trung tập huấn, thi đấu.
   36. Chấn chỉnh kỷ luật chấp hành pháp luật về ngân sách nhà nước
   Ngày 08/11/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Chỉ thị 31/2018/CT-TTg về việc chấn chỉnh, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong việc chấp hành pháp luật về ngân sách nhà nước.
   Chỉ thị nêu rõ, các bộ, cơ quan trung ương, địa phương thực hiện phân bổ, giao dự toán chi ngân sách nhà nước đúng thời hạn, nội dung, đối tượng, lĩnh vực theo quy định; đảm bảo kinh phí thực hiện các nhiệm vụ/dự án quan trọng, cấp bách và chủ động bố trí kinh phí để hoàn trả kinh phí đã ứng trước, xử lý nợ đọng theo quy định.
   Điều hành, quản lý chi trong phạm vi dự toán được giao, đúng tiêu chuẩn, định mức, chế độ quy định; triệt để tiết kiệm, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách. Kiểm soát chặt chẽ, đúng quy định, hạn chế việc ứng trước dự toán ngân sách nhà nước, giảm số chi chuyển nguồn sang năm sau. Tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong quản lý, sử dụng vốn đầu tư công; khắc phục triệt để, không để xảy ra tình trạng nợ đọng khối lượng xây dựng cơ bản.
Nghiêm cấm thực hiện các khoản chi ngoài dự toán, các khoản chi trái quy định của pháp luật, sử dụng ngân sách để cho vay, tạm ứng đối với những việc, nội dung sai chế độ quy định.
   37. Hướng dẫn các tội vi phạm về bảo vệ động vật hoang dã
   Ngày 5/11/2018, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết 05/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 234 về tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã và Điều 244 về tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm của Bộ luật Hình sự.
Nghị quyết này hướng dẫn như sau:
- Hành vi tàng trữ trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm từ 00 giờ 00 phút ngày 01/01/2018 nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì tùy từng trường hợp cụ thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Điều 234 hoặc Điều 244;
- Hành vi tàng trữ cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm có từ trước ngày 01/01/2018 không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; trừ khi tàng trữ nhằm mục đích buôn bán, thu lợi bất chính.
- Hành vi chiếm đoạt cá thể, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm của người khác nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì tùy từng trường hợp cụ thể mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm chiếm đoạt tương ứng quy định tại Chương các tội xâm phạm sở hữu.
38. Điều kiện chung cấp giấy phép hoạt động các cơ sở khám, chữa bệnh
   Ngày 12/11/2018, Chính phủ ban hành Nghị định 155/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Y tế.
Nghị định 155/2018/NĐ-CP sửa đổi một số điều của Nghị định số109/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ quy định cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, trong đó, bổ sung quy định điều kiện chung để cấp giấy phép hoạt động đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
   39. Bãi bỏ điều kiện kinh doanh mũ bảo hiểm
   Chính phủ vừa ban hành Nghị định 154/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ và một số quy định kiểm tra chuyên ngành.
   Cụ thể, Nghị định 154 bãi bỏ Nghị định 87/2016/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy.
Thêm vào đó, Nghị định mới quy định tổ chức giám định sở hữu trí tuệ chỉ được phép hoạt động khi có ít nhất một giám định viên sở hữu trí tuệ, bỏ các điều kiện:
- Có trụ sở, trang thiết bị, phương tiện làm việc;
- Có nguồn cơ sở dữ liệu thông tin cần thiết để thực hiện hoạt động giám định.
Theo Nghị định này, biện pháp miễn giảm kiểm tra chất lượng hàng hóa được áp dụng đối với:
Hàng hóa nhập khẩu có cùng tên gọi, công dụng, nhãn hiệu… của cùng một cơ sở sản xuất, do cùng một người nhập khẩu, sau 03 lần nhập khẩu liên tiếp, có kết quả đánh giá phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia được cơ quan kiểm tra có văn bản xác nhận miễn kiểm tra nhà nước về chất lượng trong thời gian 02 năm.
   40. Không được tổ chức họp kết hợp tham quan, nghỉ mát
   Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định 45/2018/QĐ-TTg ngày quy định chế độ họp trong hoạt động quản lý, điều hành của cơ quan thuộc hệ thống hành chính Nhà nước, có hiệu lực ngày 25/12/2018.
   Theo đó 05 trường hợp không tổ chức họp, gồm:
- Họp kết hợp với tham quan, giao lưu, nghỉ mát hoặc dùng hình thức họp để tổ chức vui chơi, giải trí cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động;
- Họp giải quyết các công việc thường xuyên trong tình hình có thiên tai hoặc tình trạng khẩn cấp;
- Họp giải quyết công việc đã được phân quyền, phân cấp, ủy quyền cho thủ trưởng cơ quan hành chính cấp dưới giải quyết;
- Họp giải quyết công việc đã được pháp luật quy định giải quyết bằng các cách thức khác không phải thông qua cuộc họp;
- Họp nghe báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác của cấp dưới thay thế cho việc kiểm tra trực tiếp đối với cơ quan, đơn vị cấp dưới và cơ sở.
41. Quy định mới về điều kiện thành lập, giải thể tổ chức hành chính

   Ngày 22/11/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 158/2018/NĐ-CP Quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể tổ chức hành chính, theo đó quy định  Điều kiện thành lập, giải thể tổ chức hành chính như sau:

   * Tổ chức hành chính được thành lập khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

   - Có cơ sở pháp lý;
   - Đáp ứng các tiêu chí thành lập theo quy định của pháp luật;
   - Có phạm vi, đối tượng quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực hoặc lĩnh vực quản lý nội bộ của tổ chức hành chính;
   - Có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn không chồng chéo với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức hành chính khác;
   - Loại hình và quy mô tổ chức hành chính được thành lập phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức và yêu cầu cải cách hành chính nhà nước.

   * Tổ chức hành chính được giải thể trong trường hợp tổ chức đó không còn chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng quản lý.

42. Trẻ sốt trên 39 độ sau tiêm chủng phải đưa ngay đến bệnh viện
   Bộ Y tế vừa ban hành Thông tư 34/2018/TT-BYT quy định chi tiết một số điều của Nghị định 104/2016/NĐ-CP quy định về hoạt động tiêm chủng, có hiệu lực 01/01/2019.
   Theo đó, sau khi tiêm chủng, trẻ phải được theo dõi ít nhất 30 phút tại điểm tiêm chủng và tiếp tục theo dõi ít nhất 24 giờ tại nhà về các dấu hiệu: Tinh thần, ăn, ngủ, thở, phát ban, triệu chứng tại chỗ tiêm. Nếu có dấu hiệu bất thường phải báo ngay cho nhân viên y tế.
Đặc biệt, nếu trẻ có những biểu hiện sau phải đưa trẻ đến ngay bệnh viện hoặc các cơ sở y tế khác: Sốt cao trên 39 độ, co giật, trẻ khóc thét, quấy khóc kéo dài, li bì, bú kém, bỏ bú, khó thở, tím tái, phát ban và các biểu hiện bất thường khác…
Thông tư này cũng chỉ rõ, mỗi buổi tiêm chủng tại mỗi điểm tiêm chủng chỉ được thực hiện tiêm với tối đa 50 trẻ; trường hợp chỉ tiêm 01 loại vắc xin thì không quá 100 trẻ/buổi.
43. Tin chỉ đạo ứng phó thiên tai được phát liên tục 3 giờ/lần
   Ngày 29/11/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định 160/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai.
Theo quy định của Nghị định này, Đài truyền hình Việt Nam, Đài tiếng nói Việt Nam và hệ thống đài phát thanh, truyền hình của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải phát, đưa tin đầy đủ nội dung chỉ đạo trong các văn bản chỉ đạo ứng phó thiên tai ngay sau khi nhận được.
Đồng thời, các đơn vị thông tấn nêu trên phải phát lại các văn bản chỉ đạo với tần suất tối thiểu 03 giờ/lần, với thiên tai đến cấp độ 3; tối thiểu 01 giờ/lần đối với thiên tai trên cấp độ 3 cho đến khi có chỉ đạo mới hoặc hoạt động ứng phó thiên tai đã được thực hiện hoặc diễn biến thiên tai đã thay đổi không còn ảnh hưởng.
Thời lượng phát tin chỉ đạo, chỉ huy ứng phó thiên tai bao gồm thời gian phát đầy đủ nội dung văn bản chỉ đạo, chỉ huy ứng phó thiên tai; nêu rõ sự thay đổi của nội dung văn bản và cập nhật tình hình diễn biến thiên tai cùng các hoạt động ứng phó thiên tai.
Nghị định này có hiệu lực từ ngày 15/01/2019.
44. Thay đổi cách tính điểm ưu tiên trong thi tuyển công chức
   Đây là nội dung được Chính phủ thông qua tại Nghị định 161/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập ngày 29/11/2018.
Theo quy định của Nghị định mới, cơ quan sử dụng công chức khi tuyển dụng không được phân biệt loại hình đào tạo, văn bằng, chứng chỉ, trường công lập, ngoài công lập.
Từ thời điểm Nghị định này có hiệu lực, điểm ưu tiên trong thi tuyển hoặc xét tuyển công chức sẽ thay đổi, cụ thể:
- Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B được cộng 7,5 điểm vào kết quả điểm thi tại vòng 2 thay vì cộng 30 điểm vào tổng số điểm thi tuyển hoặc xét tuyển như quy định tại Nghị định 24/2010/NĐ-CP.
- Người dân tộc thiểu số, sĩ quan quân đội, sĩ quan công an, quân nhân chuyên nghiệp, con liệt sĩ, con thương binh, con bệnh binh, con Anh hùng Lực lượng vũ trang, con Anh hùng Lao động được cộng 5 điểm vào kết quả điểm thi tại vòng 2 thay vì cộng 20 điểm vào tổng số điểm thi tuyển hoặc xét tuyển...
Nghị định này có hiệu lực từ ngày 15/01/2019.
45. Đánh giá việc giải quyết TTHC theo cơ chế một cửa qua 9 chỉ số
   Để hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị định 61/2018/NĐ-CP về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính, Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Thông tư 01/2018/TT-VPCP.
Việc thực hiện tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả tại Bộ phận Một cửa phải được công bố trong Quyết định công bố thủ tục hành chính… Trường hợp TTHC được thực hiện trực tuyến hoặc thông qua bưu điện phải ghi cụ thể trong cột cách thức thực hiện tại Quyết định công bố.
Đặc biệt nếu thấy cần thiết, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định lựa chọn TTHC phổ biến có số lượng hồ sơ phát sinh lớn để hướng dẫn thực hiện qua bộ hồ sơ mẫu và video hướng dẫn, công khai tại Bộ phận Một cửa.
Việc giải quyết TTHC được đánh giá qua 9 chỉ số, trong đó có: Tổng thời gian giải quyết TTHC so với thời gian cho phép theo quy định; Thái độ của cán bộ, công chức, viên chức khi hướng dẫn lập hồ sơ, tiếp nhận và giải quyết TTHC…
Thông tư này có hiệu lực từ ngày 06/01/2019.
46. Quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp
   Ngày 4/12/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định 163/2018/NĐ-CP quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp, có hiệu lực từ ngày 01/02/2019.
   Theo đó, trái phiếu doanh nghiệp phát hành tại thị trường trong nước có mệnh giá là 100.000 đồng hoặc là bội số của 100.000 đồng. Nếu phát hành ra thị trường quốc tế, mệnh giá được thực hiện theo quy định của thị trường phát hành.
   Trái phiếu được phát hành dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử; Doanh nghiệp phát hành quyết định cụ thể hình thức trái phiếu đối với mỗi đợt phát hành theo quy định tại thị trường phát hành.
   Đáng chú ý, Nghị định 163/2018/NĐ-CP quy định trái phiếu doanh nghiệp bị hạn chế giao dịch trong phạm vi dưới 100 nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp trong vòng 01 năm, kể từ ngày hoàn thành đợt phát hành, trừ trường hợp quyết định của Tòa án hoặc thừa kế theo quy định.
   47. Trêu ghẹo, xúc phạm nhân viên hàng không bị phạt đến 5 triệu đồng
   Chính phủ vừa ban hành Nghị định 162/2018/NĐ-CP quy định việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng, có hiệu lực 15/01/2019.
   Nghị định đã bổ sung quy định xử phạt đối với người có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhân viên hàng không, hành khách hoặc người khác tại cảng hàng không, sân bay; Đe dọa, lăng mạ nhân viên hàng không, hành khách trên tàu bay.
   Theo đó, người có một trong các hành vi nêu trên sẽ bị phạt tiền từ 03 – 05 triệu đồng. Mức phạt này cũng áp dụng đối với người thuê, lôi kéo, xúi giục người khác đánh nhau hoặc đánh nhau tại cảng hàng không, sân bay mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
   Đối với hành vi hành hung nhân viên hàng không, hành khách, người khác tại cảng hàng không, sân bay, nơi có công trình, trang bị, thiết bị hàng không dân dụng mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị phạt từ 07 - 10 triệu đồng.
   48. Học cao đẳng chất lượng cao phải tốt nghiệp THPT trung bình khá
   Bộ Lao động Thương binh và Xã hội vừa ban hành Thông tư 21/2018/TT-BLĐTBXH quy định tiêu chí xác định chương trình chất lượng cao trình độ cao đẳng, trung cấp.
   Theo Thông tư này, chương trình chất lượng cao trình độ cao đẳng, trung cấp được đánh giá dựa trên các tiêu chí: Chương trình đào tạo; Nhà giáo giảng dạy; Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học; Người học. Trong đó, đáng chú ý, người học chương trình chất lượng cao phải đáp ứng các điều kiện như:
- Có kết quả học tập bậc THCS, THPT từ trung bình khá trở lên;
- Có trình độ ngoại ngữ đầu vào tối thiểu đạt bậc 2/6 đối với các ngành, nghề ngôn ngữ và văn hóa nước ngoài; từ bậc 1/6 đối với các ngành, nghề khác theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc của Việt Nam;
- Nếu là người nước ngoài phải có văn bằng tốt nghiệp tối thiểu tương đương văn bằng tốt nghiệp THCS, THPT của Việt Nam, có năng lực tiếng Việt đáp ứng yêu cầu chương trình đào tạo do hiệu trưởng nhà trường quy định;
- Tự nguyện tham gia học, cam kết đóng học phí theo quy định.
Đáng chú ý, Thông tư này cũng quy định, bằng tốt nghiệp trình độ trung cấp, cao đẳng của chương trình chất lượng cao sẽ có nội dung: Chương trình chất lượng cao.
   49. Tăng cường PCCC tại khu dân cư
   Ngày 05/12/2018, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị  32/CT-TTg  yêu cầu tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy (PCCC) tại khu dân cư. 

            Theo đó, Thủ tướng yêu cầu UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo tổng rà soát, đánh giá, phân loại địa bàn trọng điểm, khu dân cư có nguy cơ cháy, nổ cao cần tăng cường quản lý nhà nước về PCCC. Xây dựng quy định, biện pháp cụ thể xử lý đối với các nhà chuyển đổi công năng vừa ở, vừa sản xuất, kinh doanh, làm kho tàng, thu mua phế liệu..., nhưng không bảo đảm các điều kiện an toàn PCCC.
50. Tăng cường các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng
   Ngày 05/12/2018, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 33/CT-TTg  Về tăng cường các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù.
   Theo đó để tiếp tục nâng cao hiệu quả tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù (bao gồm cả người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, người chấp hành xong biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng), Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành chức năng, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Thường trực Ban Bí thư tại Công văn 1753-CV/VPTW ngày 13/10/2011 của Văn phòng Trung ương Đảng; xác định công tác tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác phòng, chống tội phạm, đảm bảo an ninh trật tự tại địa phương.
   51. Phê duyệt Đề án phát triển Giáo dục mầm non giai đoạn 2018 - 2025
            Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 1677/QĐ-TTg  phê duyệt Đề án phát triển Giáo dục mầm non giai đoạn 2018 - 2025. Mục tiêu của Đề án nhằm củng cố, phát triển mạng lưới trường, lớp mầm non phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương, đáp ứng nhu cầu đến trường của trẻ em, theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế. Đa dạng hóa các phương thức, nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em theo hướng đạt chuẩn chất lượng giáo dục mầm non trong khu vực và quốc tế; củng cố, duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, chuẩn bị tốt cho trẻ em vào học lớp một; phát triển giáo dục mầm non cho trẻ em dưới 5 tuổi.
51. Tăng lương tối thiểu vùng từ ngày 1/1/2019
   Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 157/2018/NĐ-CP  Quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, theo đó từ ngày 1/1/2019, mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp từ ngày 1/1/2019 như sau: Vùng I: 4.180.000 đồng/tháng; vùng II: 3.710.000 đồng/tháng; vùng III: 3.250.000 đồng/tháng; vùng IV: 2.920.000 đồng/tháng. Như vậy, mức lương tối thiểu vùng mới cao hơn mức lương hiện nay khoảng 160.000-200.000 đồng/tháng.
   52. 3 đối tượng thủy sản nuôi chủ lực của Việt Nam

   Ngày 13/12/2018, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 50/2018/QĐ-TTg Quy định đối tượng thủy sản nuôi chủ lực, theo đó đối tượng thủy sản nuôi chủ lực gồm có:

– Tôm sú (Penaeus monodon Fabricus, 1798);
– Tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei Boone, 1931);
– Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878).
Quyết định cũng nêu rõ tiêu chí xác định đối tượng nuôi thủy sản chủ lực, gồm:
– Thuộc Danh mục loài thủy sản được phép kinh doanh tại Việt Nam.
– Tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cao cho người lao động; phát huy hiệu quả tài nguyên, điều kiện tự nhiên của đất nước và có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
– Có năng suất và hiệu quả sản xuất cao; có khả năng thu hút đầu tư để tạo ra vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao.
– Tạo sản phẩm có giá trị gia tăng cao; có khả năng cạnh tranh với đối tượng thủy sản của quốc gia khác trên thị trường nội địa và xuất khẩu, trong đó giá trị xuất khẩu tối thiểu đạt 100 triệu USD/năm.

   53. Điều kiện thành lập mới thôn, tổ dân phố từ năm 2019

   Bộ Nội vụ vừa ban hành Thông tư 14/2018/TT-BNV sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 04/2012/TT-BNV ngày 31/8/2012 của Bộ Nội vụ  hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố.

   Theo đó từ năm 2019,điều kiện thành lập mới thôn, tổ dân phố như sau:

– Quy mô số hộ gia đình

Đối với thôn ở xã:
Đối với thôn ở xã thuộc các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc có từ 150 hộ gia đình trở lên;
Thôn ở xã thuộc các tỉnh miền trung có từ 250 hộ gia đình trở lên;
Thôn ở xã thuộc các tỉnh miền Nam có từ 350 hộ gia đình trở lên;
Thôn ở xã thuộc các tỉnh tây nguyên có từ 200 hộ gia đình trở lên;
Thôn ở xã biên giới, xã đảo; thôn ở huyện đảo không tổ chức đơn vị hành chính cấp xã có từ 100 hộ gia đình trở lên.
Đối với tổ dân phố ở phường, thị trấn:
Đối với tổ dân phổ ở phường, thị trấn thuộc các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc có từ 200 hộ gia đình trở lên;
Đối với tổ dân phổ ở phường, thị trấn thuộc các tỉnh miền Trung có từ 300 hộ gia đình trở lên;
Đối với tổ dân phổ ở phường, thị trấn ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng có từ 350 hộ gia đình trở lên; riêng thành phố Hà Nội có từ 450 hộ gia đình trở lên;
Đối với tổ dân phổ ở phường, thị trấn thuộc các tỉnhmiền Nam  có từ 400 hộ gia đình trở lên; riêng thành phố Hồ Chí Minh có từ 450 hộ gia đình trở lên;
Đối với tổ dân phổ ở phường, thị trấn thuộc các tỉnh Tây Nguyên có từ 250 hộ gia đình trở lên;
Đối vớitổ dân phổ ở phường, thị trấn biên giới, phường, thị trấn đảo; tổ dân phố ở huyện đảo không tổ chức đơn vị hành chính cấp xã có từ 150 hộ gia đình trở lên.

Các điều kiện khác

Cần có cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội thiết yếu, phù hợp với thực tiễn của địa phương để phục vụ hoạt động cộng đồng  và bảo đảm ổn định cuộc sống của người dân.
   54. Nhà mạng phải đảm bảo bí mật thông tin người dùng
   Bộ Thông tin và Truyền thông  vừa ban hành Thông tư 16/2018/TT-BTTTT sửa đổi Thông tư  39/2016/TT-BTTTT quy định về hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung trong lĩnh vực viễn thông.
   Theo Thông tư này, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông có nghĩa vụ đảm bảo bí mật thông tin của khách hàng và chỉ được chuyển giao thông tin cho bên thứ ba khi có sự đồng ý của khách hàng, trừ các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, các doanh nghiệp phải đảm bảo chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng theo đúng chất lượng đã công bố; Không được từ chối giao kết hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng với  khách hàng, trừ một số trường hợp đặc biệt.
Đáng chú ý, doanh nghiệp phải thông báo cho khách hàng trước 30 ngày trong trường hợp ngừng kinh doanh dịch vụ viễn thông.
Thông tư này có hiệu lực từ ngày 21/01/2019.
   55. Ưu tiên hỗ trợ dự án chế biến nông sản địa phương
   Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa ban hành Thông tư 04/2018/TT-BKHĐT hướng dẫn thực hiện Nghị định 57/2018/NĐ-CP về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.
   Theo đó, Danh mục dự án khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt được xây dựng trên nguyên tắc:
- Ưu tiên dự án chế biến nông sản sử dụng nguyên liệu địa hoặc sử dụng trên 100 lao động;
- Ưu tiên dự án sản xuất sản phẩm cơ khí, thiết bị, linh kiện thiết bị, sản phẩm phụ trợ cho ngành nông nghiệp;
- Ưu tiên dự án có quy trình sản xuất thân thiện môi trường, tiêu tốn ít năng lượng, ít phát thải;…
Việc nghiệm thu và hỗ trợ trang thông tin điện tử “Chợ nông sản quốc gia” được Hội đồng nghiệm thu căn cứ văn bản đồng ý xây dựng trang thông tin điện tử của Bộ Công Thương; số lượng doanh nghiệp đăng sản phẩm lên trang; Bản sao công chứng các tài liệu chứng minh tài sản đảm bảo của doanh nghiệp…
Thông tư này có hiệu lực từ ngày 21/01/2018. 
II. VĂN BẢN ĐỊA PHƯƠNG
1. Thủ tục hành chính mới lĩnh vực y tế
Ngày 02/10/2018, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định 2956/QĐ-UBND về việc công bố danh mục thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết và phạm vi quản lý của Sở Y tế tỉnh Quảng Nam, theo đó cấp tỉnh có 201 thủ tục hành chính, cấp huyện có 04 thủ tục hành chính và cấp xã 02 thủ tục hành chính.
2. UBND tỉnh công bố 171 thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực nông nghiệp
   Ngày 16/10/2018, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định 3093/QĐ-UBND về việc công bố Danh mục thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết và phạm vi quản lý của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, theo đó có 171 thủ tục hành chính, cụ thể: cấp tỉnh 138 TTHC, cấp huyện 27 TTHC, cấp xã 06 TTHC
3. Tăng mức hỗ trợ sữa chữa, nâng cấp, xây mới nhà văn hóa thôn
   Theo Nghị quyết số 214/NQ-HĐND ngày 25/10/2018 của Hội đồng nhân dân thành phố Tam Kỳ về điều chỉnh, bổ sung một số nội dung Nghị quyết 03/2014/NQ-HĐND, Nghị quyết 04/2014/NQ-HĐND  ngày 25/9/2014 của HĐND thành phố (khóa X) và  Nghị quyết 164/NQ-HĐND ngày 01/11/2016 của HĐND thành phố Tam Kỳ khóa XI, thì điều chỉnh mức hỗ trợ đầu tư xây mới, nâng cấp và sửa chữa  các nhà văn hóa thôn, khối phố hằng năm, cụ thể:
   - Xây mới: hỗ trợ từ 80 triệu lên 100 triệu đồng;
   - Nâng cấp: Hộ trợ từ 60 triệu lên 80 triệu đồng;
   - Sửa chữa: Hỗ trợ từ 15 triệu lên 30 triệu đồng.
4. Bộ quy tắc ứng xử văn minh du lịch Quảng Nam
   Ngày 01/11/2018, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định số 3285/QĐ – UBND về việc ban hành Bộ quy tắc ứng xử văn minh du lịch Quảng Nam, theo đó quy tắc ứng xử chung cho tất cả các đối tượng như sau:
   - Tuân thủ pháp luật Việt Nam;
   - Thực hiện đúng nội quy, quy định tại các khu, điểm đến;
   - Tôn trọng văn hóa, phong tục, tập quán của địa phương;
   - Bảo vệ cảnh quan môi trường, giá trị văn hóa lịch sử tại các khu, điểm du lịch;
   - Giúp đỡ, ưu tiên những người yếu thế trong xã hội khi tham gia hoạt động du lịch (người lớn tuổi, người khuyết tật, trẻ em và phụ nữ mang thai...);
   - Giữ gìn vệ sinh chung, an ninh, trật tự tại nơi công cộng.
5. Thủ tục hành chính mới trên lĩnh vực kế hoạch đầu tư
   Ngày 07/11/2018, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định 3364/QĐ-UBND Về việc công bố Danh mục thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết và phạm vi quản lý của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam, theo đó có 181 thủ tục hành chính, cụ thể cấp tỉnh 156 thủ tục, cấp huyện 25 thủ tục.
   Quyết định 3364/QĐ-UBND thay thế cho Quyết định 1753/QĐ-UBND ngày 19/5/2017 của UBND tỉnh Quảng Nam về công bố thủ tục hành chính chuẩn hóa  thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Kế hoạch và Đầu tư.
   6. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
   Ngày 06/11/2018, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Chỉ thị số 12/CT-UBND về  tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, theo đó yêu cầu UBND các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo các phòng, ban chuyên môn, UBND cấp xã cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến việc thực hiện công chứng theo đề nghị của các tổ chức hành nghề công chứng, công chức viên theo đúng quy định của Luật Công chứng và các văn bản hướng dẫn thi hành.
7. Đề án kiện toàn hệ thống tổ chức y tế tỉnh Quảng Nam
   Ngày 13/11/2018, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định số 3427/QĐ-UBND ban hành đề án kiện toàn hệ thống tổ chức y tế tỉnh Quảng Nam với một số nội dung đáng chú ý như sau:
   - Giải thể Phòng Y tế thuộc UBND huyện, thị xã, thành phố và giao chức năng, nhiệm vụ cho Văn phòng UBND-HĐND huyện, thị xã, thành phố. Dự kiến hoàn thành trong tháng 12/2018.
   - Sáp nhập Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình huyện, thị xã, thành phố vào Trung tâm Y tế huyện, thị xã, thành phố và hoạt động theo mô hình Trung tâm y tế huyện đa chức năng; bao gồm y tế dự phòng, khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng, dân số và các nhiệm vụ khác của ngành y tế. Dự kiến đi vào hoạt động từ 01/01/2019.
   - Tiếp nhận và giao Trạm y tế xã, phường, thị trấn thực hiện các nhiệm vụ về y tế học đường. Xây dựng và phát triển Trạm y tế xã, phường, thị trấn hoạt động theo nguyên lý y học gia đình.
   8. Quy định thực hiện dân chủ trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư
   Ngày 13/11/2018, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định 3431/QĐ-UBND Quy định thực hiện dân chủ trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư trên địa bàn thỉnh Quảng Nam.
   Theo đó, việc thực hiện dân chủ trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư phải đảm bảo nguyên tắc:
   Công khai, dân chủ, minh bạch, công bằng và đúng quy định của pháp luật; Bảo đảm quyền của người dân được biết, được tham gia ý kiến để thực hiện và giám sát việc thực hiện; Bảo vệ quyền lợi của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất khi nhà nước thu hồi đất; Bảo đảm sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp , sự giám sát của UBMTTQVN và các tổ chức chính trị, xã hội các cấp trên địa bàn tỉnh.
   Quyết định 3431 cũng quy định cụ thể trách nhiệm của UBND cấp huyện, UBND cấp xã, như:
   - Đối với UBND cấp huyện: Phối hợp chặt chẽ với UBMTTQVN và các tổ chức chính trị, xã hội cùng cấp chỉ đạo UBND cấp xã , Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện tốt Quy chế này và các quy định khác của pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Giải quyết các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị…
   - Đối với UBND cấp xã: Chỉ đạo Ban nhân dân thôn, khối phố phối hợp với Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng niêm yết công khai các nội dung quy định tại Điều 4 của Quy chế này tại nhà văn hóa thôn, khối phố hoặc điểm sinh hoạt cộng đồng của thôn, khối phố …Phối hợp với Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng thực hiện xác định chi phí đầu tư vào đất theo quy định; thực hiện kiểm đếm, xác nhận nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất, chủ sử dụng đất, tính pháp lý của thửa đất, quá trình sử dụng đất, xác nhận số hộ, số nhân khẩu; xác nhận ngành nghề, hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp…
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 13/11/2018

9.  Quy định về quản lý cán bộ, công chức, người lao động của tỉnh Quảng Nam

   Ngày 22/11/2018, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định số 12/2018/QĐ-UBND Về quản lý cán bộ, công chức, lao động hợp đồng trong cơ quan hành chính nhà nước và người quản lý doanh nghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam.

   Theo đó, Chủ tịch UBND cấp huyện có thẩm quyền:
   - Quyết định nâng lương thường xuyên, nâng lương trước thời hạn, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề đối với cán bộ, công chức ngạch chuyên viên chính và tương đương trở xuống (trừ Quyết định nâng bậc lương trước thời hạn, nâng bậc lương thường xuyên và phụ cấp thâm niên vượt khung, chuyển ngạch đối với Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc, Phó Giám đốc Sở và tương đương, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện).
   - Quyết định xếp lương, chuyển xếp ngạch, bậc lương đối với cán bộ, công chức cấp xã.
   - Tiến hành trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật và quyết định hình thức kỷ luật đối với cán bộ, công chức và lao động hợp đồng thuộc thẩm quyền quản lý theo quy định…

10. Quảng Nam công bố 254 thủ tục hành chính lĩnh vực Tư pháp
            Ngày 23/11/2018, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định 3534/QĐ-UBND về công bố danh mục thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết và phạm vi quản lý của Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam.

Theo đó, lĩnh vực Tư pháp có 254 thủ tục hành chính, cụ thể: Cấp tỉnh 179 thủ tục hành chính, cấp huyện 33 thủ tục hành chính, cấp xã 42 thủ tục hành chính.

11. Quyền của tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

   Ngày 27/11/2018, UBND tỉnh Quảng Nam Ban hành Quyết định 14/2018/QĐ-UBND Quy định về quản lý tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, có hiệu lực 10/12/2018.
Theo đó, Tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản có các quyền sau đây:
+ Sử dụng thông tin về khoáng sản liên quan đến mục đích khai thác và khu vực được phép khai thác;
+ Tiến hành khai thác khoáng sản theo nội dung Giấy phép khai thác khoáng sản được cấp;
+ Được thăm dò nâng cấp trữ lượng khoáng sản trong phạm vi diện tích, độ sâu được phép khai thác, nhưng phải thông báo khối lượng, thời gian thăm dò nâng cấp cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép trước khi thực hiện;
+ Cất giữ, vận chuyển, tiêu thụ và xuất khẩu khoáng sản đã khai thác theo quy định của pháp luật;
+ Đề nghị gia hạn, trả lại Giấy phép khai thác khoáng sản hoặc trả lại một phần diện tích khu vực khai thác khoáng sản;
+ Đề nghị chuyển nhượng quyền khai thác khoáng sản;
+ Khiếu nại, khởi kiện quyết định thu hồi Giấy phép khai thác khoáng sản hoặc quyết định khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
+ Thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai phù hợp với dự án đầu tư khai thác khoáng sản, thiết kế mỏ đã được phê duyệt;
+ Quyền khác theo quy định của pháp luật

12. Thẩm quyền quản lý nhà nước về tôn giáo của UBND cấp huyện

   Thẩm quyền quản lý nhà nước về tôn giáo của UBND cấp huyện được UBND tỉnh Quảng Nam quy định tại Quyết định 16/2018/QĐ-UBND, ngày 05/12/2018 về Ban hành Quy chế phân cấp một số công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, theo đó UBND tỉnh phân cấp UBND cấp huyện thực hiện:
            - Chấp thuận việc thay đổi trụ sở trên địa bàn huyện, thị xã, thành phố của tổ chức tôn giáo trực thuộc cấp huyện và cấp cơ sở (Ban Trị sự GHPGVN cấp huyện, Ban Hộ tự chùa Phật giáo, Ban Cai quản họ đạo Cao Đài, Ban Trị sự chi hội Tin Lành, Ban Hành giáo Hội đồng giáo xứ Công giáo…) có phạm vi hoạt
động trong địa bàn huyện, thị xã, thành phố.
            - Chấp thuận việc đăng ký bổ nhiệm, bầu cử, suy cử người làm chức việc của tổ chức tôn giáo trực thuộc có phạm vi hoạt động trên địa bàn huyện gồm: Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp huyện, thị xã, thành phố; Ban Hộ tự chùa Phật giáo; Ban Hành giáo Hội đồng giáo xứ Công giáo; Ban Trị sự chi hội Tin Lành; Ban Cai quản của Họ đạo Cao Đài và các tổ chức tôn giáo trực thuộc tương đương khác trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

   - Cấp phép các công trình thờ tự gồm: Tượng đài, bia, tháp trong khuôn viên cơ sở tôn giáo có giá trị không quá 200.000.000 Việt Nam đồng (hai trăm triệu đồng)/công trình…

   13. Quảng Nam công bố Danh mục TTHC lĩnh vực đất đai, tài nguyên môi trường; Nội vụ

   - Ngày 06/12/2018, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định 3677/QĐ-UBND về Công bố Danh mục thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết và phạm vi quản lý của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Nam, theo đó: Tổng cộng có 30 TTHC, cụ thể: cấp  tỉnh 92 TTHC, cấp huyện35 TTHC và cấp xã 03 TTHC.

   Quyết định 3677/QĐ-UBND  có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và thay thế các Quyết định công bố thủ tục hành chính thuộc phạm vi, chức năng quản lý nhà nước của Sở Tài nguyên và Môi trường đã được UBND tỉnh công bố trước đây.

   - Ngày 07/1/2018, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định 3680/QĐ-UBND về công bố Danh mục thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết và phạm vi quản lý của Sở Nội vụ tỉnh Quảng Nam, theo dó tổng cộng có 120 thủ tục, trong đó có 70 thủ tục hành chính cấp tỉnh, 35 thủ tục hành chính cấp huyện, 15 thủ tục hành chính cấp xã, thuộc 08 lĩnh vực: Tổ chức hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập; Quản lý nhà nước quỹ xã hội, quỹ từ thiện; Quản lý nhà nước về hội; Chính quyền địa phương; Quản lý nhà nước về công tác thanh niên; Quản lý nhà nước về Văn thư - Lưu trữ; Quản lý nhà nước về Tôn giáo; Quản lý nhà nước về Thi đua - Khen thưởng.

   Quyết định 3680/QĐ-UBND  có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 1091/QĐ-UBND ngày 03/4/2017 của UBND tỉnh Quảng Nam về việc công bố bộ thủ tục hành chính chuẩn hóa thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Sở Nội vụ tỉnh Quảng Nam
   14. Mức chi các hoạt động khuyến công trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

   Ngày 05/12/2018, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định 15/2018/QĐ-UBND Quy định về quy chế quản lý kinh phí khuyến công và mức chi cho các hoạt động khuyến công trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

   Theo đó, mức chi cụ thể cho hoạt động khuyến công địa phương như sau:
- Chi hỗ trợ thành lập doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nông thôn tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật, bao gồm: Hoàn thiện kế hoạch kinh doanh; dự án thành lập doanh nghiệp và chi phí liên quan đến đăng ký thành lập doanh nghiệp. Mức hỗ trợ không quá:8 triệu đồng/doanh nghiệp.
   - Chi hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến, chuyển giao công nghệ, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp. Mức hỗ trợ tối đa 50% chi phí nhưng không quá 240 triệu đồng/cơ sở. Trường hợp chi hỗ trợ dây chuyền công nghệ thì mức hỗ trợ tối đa không quá 1,5 lần mức hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến, chuyển giao công nghệ, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp.
   - Chi hỗ trợ tổ chức hội chợ triển lãm hàng công nghiệp nông thôn, hàng thủ công mỹ nghệ trên địa bàn tỉnh, bao gồm: Hỗ trợ 100% chi phí thuê gian hàng, chi thông tin tuyên truyền và chi hoạt động của Ban tổ chức hội chợ triển lãm trên cơ sở giá đấu thầu hoặc trường hợp không đủ điều kiện đấu thầu thì theo giá được cấp có thẩm quyền phê duyệt…
15. Điều chỉnh bảng giá đất năm 2019
   Ngày 20/12/2018 UBND tỉnh Quảng Nam Quyết định 20/2018/QĐ-UBND Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 48/2014/QĐ-UBND ngày 25/12/2014, Quyết định số 43/2015/QĐ-UBND ngày 22/12/2015 và Quyết định số 30/2016/QĐ-UBND ngày 20/12/2016 của UBND tỉnh, có hiệu lực thi hành 01/01/2019.
   Bên cạnh sửa đổi, bổ sung một số điều khoản của Quyết định 48, Quyết định 43 và Quyết định 30, Quyết định 20 cũng điều chỉnh bảng giá đất của 18 huyện thị năm 2019.
   16. Trách nhiệm của UBND cấp huyện rong việc quản lý intetnet công cộng
   Ngày 18/12/2018, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định 19/2018/QĐ-UBND Quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng Internet tại các điểm truy nhập Internet công cộng và điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
   Theo đó trách nhiệm của UBND cấp huyện như sau:
   - Hướng dẫn thủ tục, cấp, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, cấp lại, thu hồi giấy chứng 14 nhận đủ điều kiện hoạt động điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng.
   - Thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động Internet tại địa phương theo thẩm quyền.
   - Thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và trò chơi điện tử trên mạng trên địa bàn. Chỉ đạo, hướng dẫn UBND xã, phường, thị trấn tổ chức tuyên truyền các quy định của pháp luật về khai thác, sử dụng, dịch vụ Internet và trò chơi điện tử trên mạng đến người dân.
   - Hỗ trợ và phối hợp với các cơ quan chức năng trong công tác kiểm tra, phát hiện, xử lý các vi phạm trong hoạt động cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và trò chơi điện tử trên mạng tại địa phương…
   17. Chính sách hỗ trợ người lao động tỉnh Quảng Nam   đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng giai đoạn 2019-2021
   Theo Nghị quyết 51/2018/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Quảng Nam thì Người lao động có hộ khẩu thường trú trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ đủ 24 tháng trở lên tính đến ngày làm thủ tục vay vốn đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, được hưởng chính sách hỗ trợ như sau:
   + Hỗ trợ học ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết
   – Hỗ trợ học ngoại ngữ: Theo chi phí thực tế, tối đa 2 triệu đồng/người/khóa học.
   – Hỗ trợ bồi dưỡng kiến thức cần thiết: Theo chi phí thực tế, tối đa 500 ngàn đồng/người/khóa học.
   – Người lao động chỉ được hỗ trợ chi phí học ngoại ngữ và bồi dưỡng kiến thức khi đã hoàn thành khóa học và đủ điều kiện đi làm việc ở nước ngoài.
   + Hỗ trợ vay vốn
   Người lao động đi làm việc ở nước ngoài được vay vốn từ nguồn ngân sách tỉnh ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội và nguồn vốn cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội…
   18. Chính sách hỗ trợ đối với trẻ em mầm non, học sinh, sinh viên
    Theo Nghị quyết số 50/2018/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Quảng Nam về Chính sách hỗ trợ đối với trẻ em mầm non, học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số, học sinh khuyết tật đang học tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, giai đoạn 2019-2021, như sau:
   + Trẻ em mầm non
   – Hỗ trợ tiền ăn trưa bằng 10% mức lương cơ sở/trẻ/tháng.
   – Thời gian hỗ trợ tính theo số tháng học thực tế, nhưng không quá 9 tháng/năm học. Trường hợp trẻ mầm non thuộc cả 02 nhóm đối tượng quy định tại khoản 1,Điều 2 Nghị quyết 50/2018/NQ-HĐND thì chỉ được hưởng 01 mức theo quy định.
   + Học sinh phổ thông (không áp dụng đối với học sinh đang theo học tạicác trường phổ thông dân tộc nội trú)
   – Hỗ trợ tiền ăn bằng 20% mức lương cơ sở/học sinh/tháng.
   – Hỗ trợ chi phí học tập với mức 120.000 đồng/học sinh/năm học.
   – Thời gian hỗ trợ tính theo số tháng học thực tế, nhưng không quá 9tháng/năm học. Trường hợp học sinh phổ thông thuộc cả 02 nhóm đối tượng quy định tại khoản 2, Điều 2 Nghị quyết 50/2018/NQ-HĐND thì chỉ được hưởng 01 mức theo quy định.
   + Hoc sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo duc nghề nghiệp
   -Hỗ trợ học bổng chính sách mỗi tháng bằng 100% mức tiền lương cơ sở/tháng/người.
   – Hỗ trợ mỗi năm một lần tiền đi lại từ nơi học về gia đình và ngược lại:
Mức 300.000 đồng/năm/người đối với học sinh, sinh viên ở các xã, thôn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; mức 200.000 đồng/năm/người đối với các đối tượng còn lại.
   – Thời gian hỗ trợ: Từ khi thoát khỏi hộ nghèo, cận nghèo cho đến khi kết thúc khóa học
   19. Quy định mới về mức hỗ trợ cho HĐND cấp xã
   Theo Nghị quyết số 55/2018/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Quảng Nam về Bổ sung điểm d, khoản 6, Điều 11 Nghị quyết số 24/2018/NQ-HĐND ngày 19 tháng 7 năm 2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định về nội dung, định mức chi và điều kiện đảm bảo cho hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp tỉnh Quảng Nam, thì được hỗ trợ như sau:
    Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã: 500.000 đồng/người/tháng; Trưởng ban Hội đồng nhân dân cấp xã: 200.000 đồng/người/tháng; Phó Trưởng ban hội đồng nhân dân cấp xã: 150.000 đồng/người/tháng.
   Trường hợp các chức danh hoạt động kiêm nhiệm đã được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm theo các quy định pháp luật hiện hành thì không được hưởng mức hỗ trợ hoạt động theo quy định tại điểm này hoặc chỉ được hưởng một mức hỗ trợ cao nhất.
   20. Mức chi đảm bảo an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
   Theo Nghị quyết số 54/2018/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Quảng Nam Quy định nội dung, mức chi và định mức phân bổ kinh phí bảo đảm trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh thì một số mức chi bảo đảm TTATGT như sau:
   - Chi thăm hỏi, hỗ trợ nạn nhân tai nạn giao thông, gia đình nạn nhân bị chết trong các vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng; nạn nhân tai nạn giao thông, gia đình nạn nhân bị chết trong các vụ tai nạn giao thông thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo xảy ra trên địa bàn tỉnh: Ban ATGT tỉnh chi: 5.000.000 đồng/người bị tử vong; 2.000.000 đồng/người bị thương nặng; Ban ATGT cấp huyện chi: 3.000.000 đồng/người bị tử vong; 1.000.000 đồng/người bị thương nặng;
   - Chi thăm hỏi, hỗ trợ nạn nhân tai nạn giao thông, gia đình nạn nhân bị chết do tai nạn giao thông thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo trong dịp Tết Nguyên đán, Ngày thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông đang cư trú trên địa bàn tỉnh: 2.000.000 đồng/người;
   - Chi bồi dưỡng cho cán bộ, chiến sỹ, lực lượng thanh tra giao thông trực tiếp tham gia bảo đảm TTATGT ban đêm (bao gồm cả lực lượng cảnh sát khác tham gia trực tiếp cho nhiệm vụ bảo đảm TTATGT theo quy định tại Nghị định số 27/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ): 100.000 đồng/người/ca (01 ca từ đủ 04 giờ trở lên);
   - Chi bồi dưỡng cho những người được cấp có thẩm quyền phân công trực tiếp làm nhiệm vụ bảo đảm TTATGT trong thời gian diễn ra các ngày lễ kỷ niệm; sự kiện chính trị – xã hội; hoạt động văn hóa, thể thao lớn của các cơ quan Trung ương và địa phương tổ chức trên địa bàn tỉnh; đưa đón các đoàn khách A1, khách quốc tế đến thăm và làm việc tại tỉnh: 150.000 đồng/người/ngày;
   - Chi hỗ trợ công tác phí, văn phòng phẩm, thông tin liên lạc cho thành viên Ban ATGT:Ban ATGT tỉnh: Trưởng Ban: 1.000.000 đồng/người/tháng; Phó Trưởng Ban: 700.000 đồng/người/tháng; Ủy viên: 500.000 đồng/người/tháng; Ban ATGT cấp huyện: Trưởng Ban: 700.000 đồng/người/tháng; PhóTrưởng Ban: 500.000 đồng/người/tháng; Ủy viên: 300.000 đồng/người/tháng…
  
 
 
 
PHẦN II
ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN
LUẬT AN NINH MẠNG NĂM 2018
1. Sự cần thiết phải ban hành Luật An ninh mạng
Với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, không gian mạng trở thành một bộ phận cấu thành không thể thiếu và đóng vai trò quan trọng trong xây dựng xã hội thông tin và phát triển kinh tế tri thức. Sự phát triển bùng nổ của công nghệ mang tính đột phá như trí tuệ nhân tạo, Internet của vạn vật, máy tính lượng tử, điện toán đám mây, hệ thống dữ liệu lớn, hệ thống dữ liệu nhanh… đã làm không gian mạng thay đổi sâu sắc cả về chất và lượng, được dự báo sẽ mang lại những lợi ích chưa từng có cho xã hội loài người nhưng cũng làm xuất hiện những nguy cơ tiềm ẩn vô cùng lớn. Nhiều quốc gia đã nhận thức rõ về những mối đe dọa đối với an ninh mạng, coi đây là thách thức mới, mối đe dọa mới có tầm quan trọng và nguy hiểm cao nên đã cụ thể hóa thành các văn bản chính sách, văn bản pháp luật như luật hoặc văn bản dưới luật tại hơn 80 quốc gia, tổ chức, liên minh quốc tế như Mỹ, Anh, Đức, Hà Lan, Pháp, Canada, Hàn Quốc, NATO… nhằm tạo ra các thiết chế, cơ sở pháp lý chống lại các nguy cơ đe dọa đến an ninh quốc gia từ không gian mạng; thành lập các lực lượng chuyên trách về an ninh mạng, tình báo mạng, chiến tranh mạng, phòng chống khủng bố mạng và tội phạm mạng. Chỉ trong vòng 06 năm trở lại đây, đã có 23 quốc gia trên thế giới ban hành trên 40 văn bản luật về an ninh mạng.
Ở nước ta, ứng dụng và phát triển mạnh mẽ công nghệ thông tin trong các lĩnh vực của đời sống đã góp phần to lớn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao chất lượng y tế, giáo dục, phát huy sức sáng tạo và quyền làm chủ của nhân dân, giữ vững an ninh, quốc phòng. Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại, hạn chế về an ninh mạng cần khắc phục như: (1) Tiềm lực quốc gia về an ninh mạng của nước ta chưa đủ mạnh, chưa huy động, khai thác được sức mạnh tổng hợp để đối phó với các mối đe dọa trên không gian mạng. (2) Không gian mạng và một số loại hình dịch vụ, ứng dụng công nghệ thông tin đang bị các thế lực thù địch, phản động sử dụng để thực hiện âm mưu tiến hành “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”, “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ chế độ chính trị ở nước ta. Tình trạng đăng tải thông tin sai sự thật, làm nhục, vu khống tổ chức, cá nhân tràn lan trên không gian mạng nhưng chưa có biện pháp quản lý hữu hiệu, dẫn tới nhiều hậu quả đáng tiếc về nhân mạng, tinh thần, thậm chí ảnh hưởng tới chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. (3) Ngày càng xuất hiện nhiều cuộc tấn công mạng với quy mô lớn, cường độ cao, gia tăng về tính chất nghiêm trọng, mức độ nguy hiểm đe dọa trực tiếp đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Khủng bố mạng nổi lên như một thách thức đe dọa nghiêm trọng tới an ninh quốc gia. Hoạt động phạm tội trên không gian mạng ngày càng gia tăng về số vụ, thủ đoạn tinh vi gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế, ảnh hưởng đến tư tưởng, văn hóa, xã hội. (4) Hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia chưa được xác định và bảo vệ bằng các biện pháp tương xứng. Do chưa xác định nội hàm sự cố an ninh mạng nên khi xảy ra các sự cố nguy hại, ảnh hưởng tới chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, việc triển khai hoạt động ứng phó, xử lý, khắc phục hậu quả của cơ quan chức năng có liên quan rất lúng túng, chưa có quy trình thống nhất, cơ quan có trách nhiệm bảo vệ an ninh mạng chưa thể chủ động triển khai các biện pháp, phương án phù hợp. (5) Tình hình lộ, lọt bí mật nhà nước qua không gian mạng rất đáng lo ngại, nhiều văn bản thuộc bí mật nhà nước bị đăng tải trên không gian mạng. Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới tình trạng trên là do nhận thức của các cơ quan, doanh nghiệp và cá nhân về bảo vệ bí mật nhà nước trên không gian mạng còn hạn chế, ý thức trách nhiệm của nhiều cán bộ, nhân viên trong bảo mật thông tin trên không gian mạng còn chưa cao, chế tài xử phạt chưa đủ răn đe. (6) Sự phụ thuộc vào thiết bị công nghệ thông tin có nguồn gốc từ nước ngoài. Không gian mạng đang ứng dụng sâu rộng vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tuy nhiên, sự phụ thuộc vào trang thiết bị công nghệ thông tin xuất xứ từ nước ngoài là mối đe dọa tiềm tàng đối với an ninh mạng nếu xảy ra xung đột. Để tránh bị tin tặc tấn công, thu thập thông tin, hoạt động tình báo, một số sản phẩm, dịch vụ mạng cần đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn nhất định, nhất là khi các sản phẩm, dịch vụ này được sử dụng trong hệ thống thông tin quan trọng và an ninh quốc gia, địa điểm cơ yếu, bảo mật, chứa đựng bí mật nhà nước. (7) Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về an ninh mạng chưa được xây dựng, các văn bản hiện hành chưa đáp ứng được yêu cầu phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hành vi sử dụng không gian mạng vi phạm pháp luật.
Thực trạng trên đã đặt đất nước ta trước những nguy cơ:
Một là, sự phát triển của mạng xã hội góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội, song cũng tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động tác động, chuyển hóa chính trị, khủng bố.
Hai là, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo đã và đang tạo ra những thành tựu khoa học công nghệ vượt trội, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội nhưng cũng được dự báo sẽ gây nên “thảm họa” nếu không được kiểm soát chặt chẽ.
Ba là, các thiết bị kết nối internet ngày càng phổ biến không chỉ mang lại những lợi ích to lớn cho cuộc sống con người, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh mà còn có thể bị sử dụng để tiến hành các cuộc tấn công mạng quy mô lớn.
Bốn là, các cuộc tấn công mạng có chủ đích (Advanced Peristent Threat    - APT) không chỉ có thể phá hoại các mục tiêu, công trình quan trọng về an ninh quốc gia mà còn chiếm đoạt thông tin, tài liệu bí mật, chiếm đoạt để sử dụng các hệ thống dữ liệu lớn, dữ liệu nhanh phục vụ các ý đồ chính trị và hoạt động phạm tội.
Thực trạng, nguy cơ trên đã đặt ra yêu cầu bức thiết phải xây dựng và ban hành văn bản luật về an ninh mạng để phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hành vi sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
2. Mục đích xây dựng Luật An ninh mạng
- Hoàn thiện cơ sở pháp lý ổn định về an ninh mạng theo hướng áp dụng các quy định pháp luật một cách đồng bộ, khả thi trong thực tiễn thi hành.
- Phát huy các nguồn lực của đất nước để bảo đảm an ninh mạng, phát triển lĩnh vực an ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
- Bảo vệ chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trên không gian mạng, xây dựng môi trường không gian mạng lành mạnh.
- Triển khai công tác an ninh mạng trên phạm vi toàn quốc, đẩy mạnh công tác giám sát, dự báo, ứng phó và diễn tập ứng phó sự cố an ninh mạng, bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; đảm bảo hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
- Nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng, hoàn thiện chính sách nghiên cứu, phát triển chiến lược, chia sẻ thông tin về an ninh mạng.
- Mở rộng hợp tác quốc tế về an ninh mạng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi, phù hợp với pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà nước ta tham gia ký kết.
3. Nội dung cơ bản của Luật An ninh mạng
Luật An ninh mạng gồm 07 chương, 43 điều, quy định những nội dung cơ bản về bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng; triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng và quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia là một trong những nội dung đặc biệt quan trọng của Luật An ninh mạng. Quy định đầy đủ các biện pháp, hoạt động bảo vệ tương xứng với mức độ quan trọng của hệ thống thông tin này, trong đó nêu ra tiêu chí xác định, lĩnh vực liên quan, quy định các biện pháp như thẩm định an ninh mạng, đánh giá điều kiện, kiểm tra, giám sát an ninh và ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
Để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, Luật         An ninh mạng đã dành 01 chương (Chương III) quy định đầy đủ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, xử lý nhằm loại bỏ các nguy cơ đe dọa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật, bao gồm: phòng ngừa, xử lý thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; phòng, chống gián điệp mạng, bảo vệ thông tin bí mật nhà nước, bí mật công tác, thông tin cá nhân trên không gian mạng; phòng ngừa, xử lý hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự; phòng, chống tấn công mạng; phòng, chống khủng bố mạng; phòng, chống chiến tranh mạng; phòng ngừa, xử lý tình huống nguy hiểm về an ninh mạng; đấu tranh bảo vệ an ninh mạng. Đây là hành lang pháp lý vững chắc để người dân có thể yên tâm buôn bán, kinh doanh hay hoạt động trên không gian mạng.
Chương IV của Luật An ninh mạng tập trung quy định về triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng một cách đồng bộ, thống nhất từ Trung ương tới địa phương, trọng tâm là các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị, quy định rõ   các nội dung triển khai, hoạt động kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin của các cơ quan, tổ chức này. Cơ sở hạ tầng không gian mạng quốc gia, cổng kết nối mạng quốc tế cũng là một trong những đối tượng được bảo vệ trọng điểm. Với các quy định chặt chẽ, sự tham gia đồng bộ của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân, việc sử dụng thông tin để vu khống, làm nhục, xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác sẽ được xử lý nghiêm minh. Các hoạt động nghiên cứu, phát triển an ninh mạng, phát triển công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng nhằm bảo vệ an ninh mạng, nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng và bảo vệ trẻ em trên không gian mạng cũng được quy định chi tiết trong Chương này.
Hiện nay, dữ liệu của nước ta trên không gian mạng đã và đang bị sử dụng tràn lan với mục đích lợi nhuận mà Nhà nước chưa có đủ hành lang pháp lý để quản lý, thậm chí là bị sử dụng vào các âm mưu chính trị hoặc vi phạm pháp luật. Để quản lý chặt chẽ, bảo vệ nghiêm ngặt dữ liệu của nước ta trên không gian mạng, Luật An ninh mạng đã quy định doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ giá trị gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ.
Nguồn nhân lực bảo vệ an ninh mạng là một trong những yếu tố quyết định sự thành bại của công tác bảo vệ an ninh mạng. Chương V Luật An ninh mạng đã quy định đầy đủ các nội dung bảo đảm triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng, xác định lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực an ninh mạng chất lượng cao, chú trọng giáo dục, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức về an ninh mạng.
Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng được quy định rõ trong Luật An ninh mạng, tập trung vào trách nhiệm của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được bố trí tại Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Theo chức năng, nhiệm vụ được giao, các bộ, ngành chức năng, ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện đồng   bộ các biện pháp được phân công để hướng tới một không gian mạng ít nguy cơ, hạn chế tối đa các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng.
Mặc dù được chuẩn bị kỹ lưỡng, được đa số Đại biểu Quốc hội tán thành, nhưng do đây là đạo luật có quy định về phòng ngừa, đấu tranh, xử lý trực tiếp các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng nên vẫn còn có những ý kiến băn khoăn về nội dung Luật. Một số đối tượng chống đối đã có hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc với những luận điệu như “chống lại loài người”, “bịt miệng dân chủ”, “đàn áp bất đồng chính kiến”, “tạo rào cản kinh doanh”, “tăng chi phí cho doanh nghiệp”, “thêm giấy phép con”, “lạm quyền”, “cấm sử dụng Facebook, Google”. Đây là những thông tin hoàn toàn bịa đặt, xuyên tạc, với mục đích cản trở hoặc gây tâm lý hoang mang, nghi ngờ trong quần chúng nhân dân đối với chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về an ninh mạng. Luật An ninh mạng không có những quy định nêu trên, không tạo rào cản, không tăng thủ tục hành chính, không cấp giấy phép con và không cản trở hoạt động bình thường, đúng luật của các tổ chức, cá nhân.
4. Ý nghĩa, tác dụng của Luật An ninh mạng
Luật An ninh mạng được thông qua có ý nghĩa, tác dụng sau đây:
Thứ nhất, là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ an ninh quốc gia; xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật, như: (*) Chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm sử dụng không gian mạng tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ví dụ như thông tin kích động lôi kéo tụ tập đông người, gây rối an ninh trật tự, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, gây mất ổn định về an ninh trật tự... (*) Các hành vi xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc; (*) Các hành vi phát tán thông tin gây hại cho tổ chức, cá nhân, gồm: thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; (*) Các hành vi xâm phạm trật tự an toàn xã hội như sử dụng không gian mạng để hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng, xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội. (Những hành vi này đã được quy định rải rác, cụ thể trong 29 Điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017). (*) Các hành vi tấn công mạng, gián điệp mạng, khủng bố mạng và liên quan như sản xuất, đưa vào sử dụng công cụ, phương tiện, phần mềm hoặc có hành vi cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng viễn thông, mạng internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, phương tiện điện tử...
Thứ hai, nhằm bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia. Hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được quy định trong Luật An ninh mạng là hệ thống thông tin khi bị sự cố, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển, làm sai lệch, gián đoạn, ngưng trệ, tê liệt, tấn công hoặc phá hoại sẽ xâm phạm nghiêm trọng an ninh mạng. Với tiêu chí như trên, hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được xác định trong các lĩnh vực quan trọng đặc biệt đối với quốc gia như quân sự, an ninh, ngoại giao, cơ yếu; trong lĩnh vực đặc thù như lưu trữ, xử lý thông tin thuộc bí mật nhà nước; phục vụ hoạt động của các công trình quan trọng liên quan tới an ninh quốc gia, mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia hoặc những hệ thống thông tin quan trọng trong các lĩnh vực năng lượng, tài chính, ngân hàng, viễn thông, giao thông vận tải, tài nguyên và môi trường, hóa chất, y tế, văn hóa, báo chí. Chính phủ sẽ quy định cụ thể những hệ thống thông tin nào trong các lĩnh vực nêu trên thuộc Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
Bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được giao cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, trực tiếp là lực lượng An ninh mạng thuộc Bộ Công an, lực lượng Tác chiến Không gian mạng thuộc Bộ Quốc phòng. Để bảo đảm phù hợp với hệ thống pháp luật trong nước, Luật An ninh mạng cũng giao Chính phủ quy định cụ thể việc phối hợp giữa Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Cơ yếu Chính phủ, các bộ, ngành chức năng trong việc thẩm định, đánh giá, kiểm tra, giám sát, ứng phó, khắc phục sự cố đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
Thứ ba, nhằm phòng, chống tấn công mạng. Luật An ninh mạng là văn bản Luật đầu tiên quy định khái niệm của hoạt động “tấn công mạng”. Theo đó “Tấn công mạng là hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin hoặc phương tiện điện tử để phá hoại, gây gián đoạn hoạt động của mạng viễn thông, mạng internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu, phương tiện điện tử”. Đồng thời, quy định các nhóm hành vi cụ thể liên quan tới tấn công mạng tại Điều 17, 18, 19, 20 và Điều 21; quy định cụ thể các nhóm giải pháp cụ thể để phòng, chống tấn công mạng, quy định trách nhiệm cụ thể của cơ quan chức năng, chủ quản hệ thống thông tin. Như vậy:
  • Hệ thống thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân được bảo vệ trước hoạt động tấn công mạng theo quy định của Luật An ninh mạng.
  • Các hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được bảo vệ tương xứng với tầm quan trọng đối với an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.
  • Quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân được bảo vệ trước các hành vi tấn công mạng.
  • Luật An ninh mạng cũng quy định cụ thể cơ chế phối hợp phòng, chống tấn công mạng của các bộ, ngành chức năng, xác định trách nhiệm cụ thể của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Ban Cơ yếu Chính phủ trong phòng, chống tấn công mạng.
 
PHẦN III
TIN NỔI BẬT VỀ HOẠT ĐỘNG PHỔ BIẾN
PHÁP LUẬT TRONG QUÝ II/2018
1. Tam Kỳ tổ chức Hội thi trực tuyến tìm hiểu pháp luật hưởng ứng Ngày pháp luật Việt Nam
Sáng ngày 09/11/2018, Phòng Tư pháp phối hợp với Phòng LĐTB&XH và Thành đoàn Tam Kỳ tổ chức Hội thi trực tuyến tìm hiểu pháp luật Hưởng ứng Ngày pháp luật Việt Nam 09/11, Tháng hành động bình đẳng giới và phòng chống bạo lực trên cơ sở giới năm 2018 với Chủ đề “Chủ động phòng, chống bạo lực, xâm hại phụ nữ và trẻ em”.
Hội thi được diễn ra với sự tham gia của 195 thí sinh là công dân Việt Nam đang sinh sống, làm việc và có hộ khẩu thường trú trên địa bàn thành phố Tam Kỳ đến từ 13 đội dự thi đại diện cho 13 xã, phường. Thí sinh dự thi có 10 phút để trả lời 30 câu hỏi trên phần mềm của website tuphaptamky.gov.vn với nội dung tìm hiểu Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật Trẻ em và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Kết quả, BTC đã trao giải nhất tập thể cho đơn vị phường Phước Hòa, giải nhì tập thể thuộc về đơn vị xã Tam Phú, giải ba tập thể thuộc về đơn vị phường Hòa Thuận; Giải nhất cá nhân đã thuộc về thí sinh Nguyễn Thị Phương của phường Hòa Thuận. Dịp này, BTC cũng đã trao 05 giải giành cho khán giả có câu trả lời đúng.
Đây là hoạt động thiết thực hưởng ứng Ngày pháp luật Việt Nam, hưởng ứng tháng hành động bình đẳng giới và phòng chống bạo lực trên cơ sở giới. Đồng thời nâng cao nhận thức, ý thức tự giác, tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật trên địa bàn thành phố./.
THÚY SƯƠNG
2. Tam Kỳ tuyên truyền luật cho học sinh khối trung học cơ sở
Hưởng ứng Ngày pháp luật Việt Nam (09/11), sáng ngày 29/10/2018, Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ phối hợp với Thành đoàn tổ chức tuyên truyền pháp luật cho học sinh trường THCS Nguyễn Huệ.
Tại buổi tuyên truyền, các em học sinh đã được tìm hiểu một số nội dung của Luật An ninh mạng, các quy định về dân sự, hình sự và các nghị định xử phạt vi phạm hành chính có liên quan. Nhiều tình huống được các bạn học sinh trao đổi nhiệt tình liên quan đến các nội dung mà Luật An ninh mạng cấm như: Đăng hình ảnh,  thông tin cá nhân của người khác lên mạng xã hội  khi chưa được sự đồng ý; đánh bạc online; mua hàng cấm qua mạng internet; đăng tải thông tin nhằm nói xấu, xúc phạm danh dự , nhân phẩm, uy tín người khác…
Dịp này, Hội đồng Đội thành phố cũng đã trao tặng 30 đôi giày trị giá 03 triệu đồng cho các bạn Đội viên trường THCS Nguyễn Huệ.



3. Kết quả cuộc thi trực tuyến tìm hiểu pháp trực tuyến đợt 2/2018
STT Người/ đơn vị nhận Giải Ghi chú
01 UBND phường Phước Hòa Giải tập thể  
02 Trần Trọng Cao – Công chức Tư pháp – Hộ tịch phường Phước Hòa, thành phố Tam Kỳ Giải nhất Cuộc thi tìm hiểu pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng
03 Phan Thị Hoanh – Đảng ủy phường Hòa Thuận, thành phố Tam Kỳ Giải nhất Cuộc thi tìm hiểu Luật An ninh mạng
04 Trần Công Văn – Công chức Tư pháp – Hộ tịch phường Phước Hòa, thành phố Tam Kỳ Giải nhì Cuộc thi tìm hiểu pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng
05 Tô Thị Thanh Thương – Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ phường Phước Hòa, thành phố Tam Kỳ  Giải nhì Cuộc thi tìm hiểu Luật An ninh mạng
06 Đoàn Thị Thanh Tuyền – Khối phố Phương Hòa Nam, Phường Hòa Thuận, thành phố Tam Kỳ Giải ba Cuộc thi tìm hiểu pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng
07 Lê Thị Thi – Văn phòng Đảng ủy phường Phước Hòa, thành phố Tam Kỳ Giải ba Cuộc thi tìm hiểu Luật An ninh mạng
08 Hà Ngọc Ai – Đoàn viên khối phố Phương Hòa Nam, phường Hòa Thuận, thành phố Tam Kỳ Giải khuyến khích Cuộc thi tìm hiểu pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng
09 Trần Ngọc Hải – Công chức Địa chính – Xây dựng phường Phước Hòa, thành phố Tam Kỳ Giải khuyến khích Cuộc thi tìm hiểu pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng
10 Lê Đình Thành – Chủ tịch UBND phường Phước Hòa, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam Giải khuyến khích Cuộc thi tìm hiểu pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng
11 Nguyễn Vũ Hoàn Hiếu – Cán bộ Văn hóa – Thông tin phường Phước Hòa, thành phố Tam Kỳ Giải khuyến khích Cuộc thi tìm hiểu Luật An ninh mạng
12 Trần Ngọc Hải – Công chức Địa chính – Xây dựng phường Phước Hòa, thành phố Tam Kỳ Giải khuyến khích Cuộc thi tìm hiểu Luật An ninh mạng
13 Lê Thị Hồng Sen – Bí thư đoàn phường Phước Hòa, thành phố Tam Kỳ Giải khuyến khích Cuộc thi tìm hiểu Luật An ninh mạng

Danh sách nhận quà:


  1. Đặng Thị An – Thị trấn Dầu Tiếng, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương;
  2. Trần Công Hậu – Sinh viên trường Đại học Luật Huế;
  3. Trần Thị Ái Vy – Sinh viên trường Đại học Luật Huế.
 
 
 



 
PHẦN IV
CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT
***
DI CHÚC CHUNG
Nhân vật: Bà L: Vợ ông S Ông S: đã mất Q: Con riêng của ông S Ông Đ: hàng xóm của ông S
Bà L kết hôn với ông S vào năm 1978. Ông S sinh năm 1938, mất ngày 22/5/2003, vợ chồng bà không có con chung. Sau khi kết hôn bà L và ông S chung sống với nhau tại nhà riêng của bà L. Trước đây ông S đã có vợ và có một con riêng tên là Q. Vợ chồng bà L và ông S đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 100 m2 vào ngày 08/7/1998 nơi ông bà đã sống và hiện nay bà L vẫn đang ở tại đó.
Trước khi chết ông S đã nhờ ông Đ viết giúp bản di chúc chung của vợ chồng, sau đó ông đưa cho bà L cùng ký. Ông S là người giữ bản di chúc đó và chuyển cho con trai (Q) từ khi nào thì bà L không biết. Thời gian gần đây bà L mới được UBND xã giao cho bà L bản phô tô, bản di chúc gốc. Hiện nay Q vẫn đang giữ. Nội dung của bản di chúc là để lại hết thổ đất cho Q, nếu bà L còn sống thì bà vẫn sống tại ngôi nhà trên mảnh đất và sau khi bà L mất thì Q sẽ thừa kế toàn bộ diện tích đất đó và Q sẽ lo hương hỏa cho bà L và ông S.
Bà L đã nhiều lần yêu cầu Q về để giải quyết nhưng Q không về.
Bản di chúc do ông S và bà L cùng lập, có ông Đ là người làm chứng ký vào bản di chúc và đã được Ủy ban nhân dân xã Hải Giang xác nhận. Bản di chúc gốc đang do ông S giữ.
Nay bà L yêu cầu chia di sản thừa kế diện tích đất 100 m2.  Ông Q yêu cầu được giữ lại tài sản trên để sau này làm nơi thờ cúng cho ông S và bà L. Hai người không thống nhất được quan điểm.
Bà L vẫn còn băn khoăn vì trong di chúc ông S để lại toàn bộ quyền sử dụng mảnh đất cho con trai riêng là Q. Để chắc chắn, bà L đã nhờ sự tư vấn của cô cháu gái là luật sư. Bà L nhờ người gọi cho X – cô cháu gái để hẹn gặp nhờ tư vấn chuyện này.
Cảnh 1: Cuộc hội thoại giữa bà L và cháu gái
X: Dạ alo ạ.
Bà L: X à cháu, bà L đây, cháu có đang bận không, cho bà hỏi chút?
X: Vâng, bà cứ nói đi ạ.
Bà L: Chả là, bà muốn nhờ cháu tư vấn về chia tài sản thừa kế. Mai cháu rảnh thì sang nhà bà tư vấn giúp bà được không cháu?
X: Dạ vâng, chiều tối mai đi làm về rồi cháu qua nhà bà ạ.
Bà L: Uh. Thế mai gặp cháu nhé.
X: Dạ vâng, cháu chào bà.
Cảnh 2: Cuộc hẹn giữa bà L và cháu gái
X đi làm về qua thẳng nhà bà L luôn.Đúng lúc bà L đang ở nhà. X nhanh nhảu: Cháu chào bà ạ.
Bà L: chào cháu, cháu vào nhà đi, đi làm về mệt mà còn bị bà làm phiền thế này có sao không?
X: Dạ không sao ạ, chẳng mấy khi được bà nhờ việc liên quan đến công việc của cháu nên cháu cũng sẵn sàng thôi bà ạ.
Bà L: uh. Chuyện là thế này cháu à.
Bà L kể đầu đuôi câu chuyện cho X nghe.
hỏi: Mảnh đất là tài sản chung của bà và ông S ạ.
Bà L: Đúng rồi cháu ạ. Trước khi lấy ông thì đấy là nhà riêng của bà, nhưng sau đó thì bà và ông cùng đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng mảnh đất. Giờ bà muốn khởi kiện yêu cầu hủy bỏ bản di chúc đó.
X: Đối chiếu quy định của Điều 630 BLDS 2015 về di chúc hợp pháp và Điều 635 BLDS 2015 về di chúc bằng văn bản có người làm chứng thì Bản di chúc tuy ông S và bà nhờ người khác viết hộ, ông, bà đã ký vào bản di chúc và đã có xác nhận của chính quyền địa phương nên bản di chúc được lập là hoàn toàn hợp pháp bà ạ.
Bà L: Như thế theo nội dung di chúc thì bà không được quyền thừa kế gì đối với diện tích đất đó à cháu.
X: Không bà ạ. Bà để cháu phân tích rõ cho bà ạ.
Theo quy định của Điều 611 BLDS 2015 thì thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết và khoản 1 Điều 643 BLDS 2015 quy định di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.
Bản di chúc của ông S và bà sẽ có hiệu lực đối với phần di sản của ông S để lại kể từ ngày ông S mất (tức là ngày 22/5/2003). Theo đó, mảnh đất là tài sản chung của ông S và bà nên di sản thừa kế của ông S là quyền sử dụng một nửa diện tích đất chung của 2 vợ chồng bà (50 m2).
Mặc dù, trong di chúc ông S để lại toàn bộ di sản cho anh Q nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 644 BLDS 2015 thì những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
- Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
- Con thành niên mà không có khả năng lao động.
Do đó, bà vẫn được hưởng 2/3 suất thừa kế của một người thừa kế theo pháp luật. Đối với trường hợp của bà, di sản thừa kế của ông S là quyền sử dụng ½ diện tích thửa đất, tương ứng với 50 m2. Một suất thừa kế di sản của ông S theo pháp luật là quyền sử dụng 1/4 diện tích mảnh đất (Có 2 người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất), tương ứng với 25m2. Do đó, bà sẽ được hưởng thừa kế quyền sử dụng 1/6 mảnh đất, tương ứng với 16.6 m2.
Tổng diện tích đất thuộc quyền sở hữu của bà là 66.6 m2.
Bà L: Bà muốn được chia bằng hiện vật, nhận quản lý, sử dụng cả thổ đất nêu trên và nhận trách nhiệm thanh toán giá trị chênh lệch cho Q bởi vì diện tích đất này đang do bà quản lý, sử dụng, bà đã có công trông coi quản lý từ khi ông S chết cho đến nay. Bản thân bà đã già yếu, hơn 80 tuổi, đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội người cao tuổi, lại neo đơn không có con cháu, bà không còn chỗ ở nào khác. Hơn nữa, năm 2010, bà L được Công ty đường gòn và Cựu thanh niên xung phong xây cho một nhà tình nghĩa, nên bà muốn được tiếp tục quản lý, sử dụng, sinh sống ở đây cháu à. Ngoài ra, khi ông S mất một mình bà phải lo tất cả mọi thủ tục để mai táng cho ông S như mua quan tài hết 10.000.000đ, các chi phí khác phục vụ đám tang là 5.000.000đ,  cách  đây  7  năm  bà  đã  cải  táng  và  xây  mộ  cho  ông S hết 18.000.000đ.
X: Vâng. Theo quy định tại Điều 623Bộ luật dân sự năm 2015thì thời hiệu khởi kiện chia thừa kế của ông S vẫn còn nằm trong thời hiệu khởi kiện
Tuy nhiên, nếu có thể thì bà và anh Q hãy thỏa thuận với nhau về việc bà sẽ tiếp tục sinh sống trên 100 m2 đất đó và thanh toán tiền quyền sử dụng đất đối với phần thuộc thừa kế anh Q được hưởng (là 33.4m2) sau khi trừ đi chi phí lo hậu sự cho ông S bà ạ. Chứ bây giở ra tòa vừa mất thời gian, vừa tốn kém, mất tình cảm nữa bà ạ.
Bà L: Để bà thử gặp Q nói chuyện xem sao. Hôm đó cháu đi cùng bà để phân tích cho Q hiểu thêm nhé.
X: Dạ vâng.
Sau hôm đó bà đã liên hệ để gặp Q.
Cảnh 3: Buổi gặp thỏa thuận chia di sản thừa kế giữa bà L, cô X và Q
Lúc đầu, Q khăng khăng giữ quan điểm, toàn bộ quyền sử dụng mảnh đất thuộc về mình theo di chúc ông S đã để lại.
Q: Cháu không đồng ý việc phân chia di sản như cô nói đâu ạ. Trong di chúc bố cháu đã viết rõ ràng để lại toàn bộ di sản cho cháu rồi ạ và cô cũng đã ký vào di chúc rồi mà sao giờ cô lại thay đổi như thế ạ.
X: Anh Q ạ, Theo quy định tại Điều 640 BLDS 2015 thì:
1. Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào.
2. Trường hợp người lập di chúc bổ sung di chúc thì di chúc đã lập và phần bổ sung có hiệu lực pháp luật như nhau; nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật.
3. Trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị hủy bỏ.
Trước kia bà nghĩ ông bà còn sống với nhau lâu dài, di chúc chỉ để dự phòng trường hợp xấu và bà cũng không tính xa. Theo quy định trên thì bà có thể thay đổi lại di chúc đối với phần tài sản của mình.
Nhưng nhờ có sự phân tích sắc bén, đầy đủ lý lẽ, các quy định của pháp luật nên Q đã nhận lời suy nghĩ thêm.
Mấy hôm sau thì thấy Q liên lạc với bà L để nói chuyện và thỏa thuận phân chia di sản.
Sau đó bà L có gọi cho X để hỏi về cách viết văn bản thỏa thuận phân chia di sản thì được X tư vấn soạn thảo văn bản thỏa thuận và hướng dẫn đến văn phòng công chứng gần nhà để công chứng văn bản thỏa thuận, để bà L có cơ sở làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với toàn bộ mảnh đất sau khi đã thanh toán cho anh Q giá trị tương ứng với phần anh Q được hưởng thừa kế.
Xong xuôi các thủ tục, nhận được Giấy chứng nhận thì bà L sang nhà cảm ơn X rối rít. X cũng thấy vui vì đã giúp được bà và anh Q.
Nguồn: moj.gov.vn
 
 

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Tin mới

















 

Thăm dò ý kiến

Đánh giá thái độ phục vụ của công chức Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ

Thoải mái, dễ chịu, vui vẻ

Hướng dẫn tận tình, chu đáo

Hướng dẫn thờ ơ, qua loa

Ý kiến khác

Phóng sự giao trả hồ sơ tận nhà trên lĩnh vực Hộ tịch