Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng nhì

UBND phường An Sơn dẫn đầu phong trào thi đua  năm 2020






















:::Thống kê:::

  • Đang truy cập: 122
  • Khách viếng thăm: 114
  • Máy chủ tìm kiếm: 8
  • Hôm nay: 12298
  • Tháng hiện tại: 181056
  • Tổng lượt truy cập: 24626525

Bầu cử và tự ứng cử

Đăng lúc: Thứ hai - 09/05/2016 21:37 - Người đăng bài viết: Tuphaptamky
Bầu cử là một định chế trọng tâm của các chính phủ dân chủ. Trong một chế độ chính trị dân chủ, quyền lực của nhà nước chỉ được thực thi khi có sự nhất trí của người dân. Cơ chế căn bản để chuyển sự nhất trí đó thành quyền lực nhà nước là tổ chức bầu cử tự do và công bằng.
Bầu cử trở thành một chế độ bầu cử, một hình thức hoạt động quan trọng của xã hội dân chủ, một phương pháp phổ biến nhất hiện nay để nhân dân trao quyền lực thuộc về mình cho các chức sắc nhà nước, là cơ sở cho việc các quan chức có quyền thực hiện quyền lực nhà nước. Mọi quan chức nhà nước có được quyền lực nhà nước đều xuất phát một cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ bầu cử. Nếu không như vậy thì quyền lực đó là quyền lực không hợp pháp, không có cơ sở pháp lý. Bầu cử có tầm quan trọng trong việc xác định chế độ chính trị của mỗi quốc gia. Nguyên thủ quốc gia nếu do bầu cử mà ra thì chế độ đó là chế độ chính trị cộng hòa, nếu do thế tập truyền ngôi, thì là chế độ chính trị quân chủ.   
Trong chế độ đại nghị, nhân dân trực tiếp bầu ra hạ nghị viện, đảng đa số tại hạ nghị viện (dân biểu viện) hay liên minh các đảng cầm quyền thành lập ra một chính phủ do một thủ tướng đứng đầu. Do vậy, chính phủ phải chịu trách nhiệm trước nghị viện (dân biểu viện). Các chính phủ đại nghị đều tự hào rằng, với chế độ đa đảng, ngay cả những đảng rất nhỏ bé cũng có thể có đại diện trong viện lập pháp. Kết quả là những đảng thiểu số cũng có thể tham gia vào tiến trình chính trị ở cấp cao nhất trong chính phủ. Tính đa dạng này khuyến khích việc đối thoại và dung hoà quyền lợi khi các đảng phái chính trị cố gắng thành lập ra một liên minh để tổ chức ra chính quyền. Nếu như liên minh này tan vỡ, hoặc đảng bị mất tín nhiệm, thủ tướng sẽ từ chức, một chính phủ mới sẽ được thành lập hay một cuộc tổng tuyển cử mới được tiến hành. Những sự việc này có thể xảy ra mà không gây nên một khủng hoảng chính trị đe dọa đến chế độ dân chủ.
Trong chế độ tổng thống, nhân dân - bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp - bầu ra một vị nguyên thủ quốc gia. Nguyên thủ quốc gia đứng đầu nhà nước và là người trực tiếp lãnh đạo hành pháp. Nếu như ở chế độ đại nghị, chính phủ và người đứng đầu chính phủ do cơ quan lập pháp thành lập và phải chịu trách nhiệm trước cơ quan lập pháp, thì ở mô hình chính thể tổng thống cộng hoà, chính phủ và người đứng đầu chính phủ không phải chịu trách nhiệm trước cơ quan lập pháp, mà phải chịu trách nhiệm trước nhân dân. Tổng thống cũng trực tiếp chịu trách nhiệm trước nhân dân.   
Tổng thống do nhân dân bầu lên trong một nhiệm kỳ nhất định có uy quyền trực tiếp từ dân, có thể không cần đến thế đứng của đảng mình trong Quốc hội/Nghị viện. Nếu đa số của Quốc hội cùng đảng với Tổng thống, thì đó là một sự thuận lợi. Ngược lại, nếu không cùng đảng với đa số của Quốc hội, Tổng thống sẽ khó khăn hơn trong việc điều hành của mình. Bằng cách phân quyền cứng rắn, Quốc hội cũng do dân bầu, Tổng thống - người đứng đầu hành pháp cũng do dân bầu, cùng chịu trách nhiệm trước nhân dân, mỗi nhánh quyền lực đều có thể nại ra rằng, mình có được sự uỷ thác quyền lực từ cử tri, và mỗi nhánh quyền lực đều có quyền kiểm soát và cân bằng quyền lực đối với nhánh kia. Những ai sợ rằng, hành pháp có tiềm năng, trở nên chuyên chế sẽ có khuynh hướng nhấn mạnh vai trò của Quốc hội, và ngược lại, những người lo ngại sự lạm dụng quyền của đa số trong cơ quan lập pháp, thì sẽ luôn luôn khẳng định uy quyền của Tổng thống. Chế độ tự nhiên này có sự cân bằng nhất định giữa các nhánh quyền lực của nhà nước.
Một trong những bi kịch lớn của các chế độ dân chủ trong lịch sử nhân loại là công cuộc đấu tranh của các nhóm bị bỏ ra ngoài lề của cuộc sống cộng đồng theo các màu sắc tôn giáo, sắc tộc, phụ nữ... Họ không được hưởng quyền bầu cử và không thể được bầu giữ các chức vụ công cử.  Ở  Hoa Kỳ chẳng hạn, khi Hiến pháp năm 1787 được thông qua, chỉ có nam công dân da trắng có tài sản mới được hưởng quyền bỏ phiếu và được bầu. Điều kiện tài sản đã biến mất vào đầu thế kỷ 19 và đến năm 1920, bằng Tu chính án thứ 19, phụ nữ mới có quyền bỏ phiếu. Mặc dù vào năm 1863, Tổng thống Lincoln đã tuyên bố giải phóng nô lệ cho người da đen, nhưng mãi cho đến ba thế kỷ sau, vào năm 1960, những người da đen mới được hưởng trọn quyền bầu cử ở miền nam Hoa Kỳ. Năm 1971, dự thảo Tu chính án thứ 26 về quyền bầu cử cho những công dân được hạ từ 21 xuống 18 tuổi. Việc có nhiều người Mỹ chỉ ở độ tuổi 18 đi lính và đã hy sinh trong cuộc chiến ác liệt ở miền Nam Việt Nam là lý do cuối cùng khiến Quốc hội Hoa Kỳ phải thông qua Tu chính án này.        
 Đồng thời với các ý nghĩa trên, bầu cử còn là phương pháp thành lập nên các cơ cấu của bộ máy nhà nước. Đây là phương pháp dân chủ thể hiện quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, khác biệt hoàn toàn với biện pháp truyền ngôi, thế tập với quyền lực thần bí do Trời định đoạt, tạo thành hình thức chính thể quân chủ. Bầu cử cho phép xác định chính thể dân chủ cộng hòa. Với tầm quan trọng như vậy, bầu cử trở thành một yếu tố không thể thiếu được trong chế độ xã hội dân chủ đương đại, góp phần không nhỏ cho việc xây dựng chế độ xã hội tiên tiến, trong đó lẽ đương nhiên có cả chế độ xã hội XHCN. Với phương pháp này, chính quyền được tổ chức ra là một chính quyền hợp pháp.
Dù chính phủ có thể cơ cấu tổ chức chặt chẽ đến đâu, hoạt động có hiệu quả đến đâu đi chăng nữa, mà các quan chức - những người đảm trách các chức năng quan trọng của nhà nước không do bầu cử mà ra, cũng là một chế độ phi dân chủ. Chế độ đó chỉ là dân chủ khi các quan chức lãnh đạo chính phủ được bầu ra một cách tự do dân chủ bởi các công dân công khai và công bằng. Cơ chế bầu cử các chế độ chính trị có thể là khác nhau, nhưng những yếu tố cơ bản của chúng là giống nhau đối với tất cả các xã hội dân chủ, kể cả dân chủ tư sản lẫn dân chủ XHCN: Tất cả các công dân đến tuổi trưởng thành đều có quyền bầu cử, các cá nhân được bảo vệ không bị tác động tiêu cực trong khi bỏ phiếu, kiểm phiếu công khai và trung thực...
Về nguyên tắc, nhà nước pháp quyền hiện đại phải là một nhà nước dân chủ. Nhà nước pháp quyền là nhà nước hợp pháp. Nhà nước dân chủ cũng phải là một nhà nước hợp pháp. Bầu cử như là một trong những biện pháp tạo nên sự hợp pháp của chính quyền nhà nước. Với bầu cử, quyền lực của các cơ quan được hình thành do sự ủy quyền của nhân dân. Trong một nhà nước pháp quyền, về nguyên tắc, các cuộc bầu cử càng được tổ chức rộng rãi, càng nhiều bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu, và nhà nước càng thể hiện sự dân chủ bấy nhiêu. Bầu cử là hình thức mà nhân dân thực hiện sự trao quyền lực nhà nước thuộc về mình cho những người đại diện cho nhân dân. Khi hết một nhiệm kỳ nhất định, nhân dân lại thực hiện quyền bầu cử của mình trao quyền lực cho những người khác được nhân dân tín nhiệm.  
Như vậy, bầu cử như là một biện pháp nhằm kiểm tra, giám sát chính quyền, và giải quyết một cách hòa bình những xung đột giữa các nhánh quyền lực, làm cho quyền lực nhà nước luôn luôn ở trạng thái hợp pháp. Những người đại diện được nhân dân trao quyền lực với nhiệm kỳ xác định sẽ làm cho quyền lực nhà nước luôn luôn có xu hướng quay trở lại phía nhân dân.
Ngay từ khi mới thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh tiến hành các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Ngay từ phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ lâm thời ngày 3/9/1945, Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ sớm tổ chức cuộc Tổng tuyển cử và xây dựng Hiến pháp. Người nói: “Trước ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ phải tổ chức càng sớm càng hay cuộc tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân, trai, gái, từ 18 tuổi đều có quyền bầu cử, ứng cử, không phân biệt giàu nghèo, dòng giống”[1].
Mặc dù không được tổ chức theo cơ chế chính trị của chế độ đại nghị, nhưng việc tổ chức bộ nhà nước ở Việt Nam cũng có những điểm rất tương đồng với chế độ chính trị này. Tất cả quyền lực nhà nước về nguyên tắc tập trung vào tay nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực này bằng cách bầu ra Quốc hội. Thay mặt cho nhân dân, Quốc hội có trách nhiệm thành lập ra Chính phủ và các cơ quan nhà nước khác ở trungương. Đến lượt mình, các cơ quan nhà nước này phải chịu sự kiểm tra, giám sát của Quốc hội. Cũng tương tự như vậy là việc thành lập cơ quan chính quyền địa phương.
Với tư cách là một biện pháp dân chủ để thành lập ra bộ máy nhà nước, nên các cơ quan nhà nước của nước ta đều trực tiếp hoặc gián tiếp do nhân dân bầu ra. Là cơ quan duy nhất do công dân toàn quốc trực tiếp bầu ra, nên Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước tối cao. Quốc hội thay mặt nhân dân, giải quyết các công việc quan trọng nhất của đất nước, từ việc đặt ra Hiến pháp và pháp luật cho đến việc thành lập ra các cơ quan nhà nước khác. Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 cũng như Hiến pháp của các nước thuộc hệ thống XHCN trước đây đều xác định rõ, chỉ có các cơ quan nhà nước do nhân dân trực tiếp bầu ra mới được xác định là cơ quan quyền lực nhà nước.
Mọi quyền lực của Nhà nước Việt Nam cũng như các chế độ dân chủ xã hội khác phải xuất phát từ bầu cử. Mọi quyền lực của xã hội dân chủ Việt Nam hiện nay cũng đều phải xuất phát từ lá phiếu của cử tri. Sở dĩ Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền vì qua các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, có tới hơn 90% tổng số đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp là đảng viên Đảng Cộng sản. Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam được quyền bố trí các đảng viên của mình vào các cương vị đảm trách các công việc của chính quyền. Nhân dân bỏ phiếu cho các ứng cử viên của Đảng Cộng sản cũng chính là người dân bỏ phiếu cho đường lối chủ trương của Đảng Cộng sản. Vì lẽ đó, bên cạnh việc bố trí các đảng viên của mình trong các cơ quan chính quyền nhà nước, Đảng Cộng sản còn chịu trách nhiệm xác định và triển khai các đường lối, chủ trương của mình thành các chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Cùng với quyền bầu cử, quyền ứng cử phải được thực hiện như một trong những quyền cơ bản nhất của con người mà mọi thể chế cần phải bảo đảm. Bầu cử chỉ thực sự tự do và công bằng khi mọi công dân thực thi quyền tự ứng cử mà không bị cản trở trong bất kỳ trường hợp nào.  Ở Việt Nam, cũng giống như đề cử, người tự ra ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân đều có những tiêu chuẩn được luật định. Ví dụ như tiêu chuẩn người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân là: i. Trung thành với Tổ quốc Việt Nam XHCN, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước và xây dựng, phát triển địa phương; ii. Có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu chấp hành pháp luật, tích cực đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và các hành vi vi phạm pháp luật khác, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; iii. Có trình độ và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu Hội đồng nhân dân, có khả năng tuyên truyền, vận động gia đình và nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật; am hiểu tình hình kinh tế - xã hội để tham gia quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương; iv. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm; v. Có điều kiện tham gia các hoạt động của Hội đồng nhân dân.
Ngoài ra, người tự ứng cử, người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân địa phương nào thì phải là người cư trú hoặc làm việc thường xuyên ở địa phương đó. Người tự ứng cử và người được giới thiệu ứng cử chỉ được ghi tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử và không được tham gia Ban bầu cử hoặc Tổ bầu cử thuộc đơn vị mình ra ứng cử.
Mặc dù là tự ứng cử, nhưng theo quy định của pháp luật bầu cử Việt Nam, việc ứng cử vẫn phải đưa vào quy trình hiệp thương đề cử của Ủy ban Mặt trận Tổ quốcViệt Nam. Mặt trận Tổ quốc tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp (Khoản 4 Điều 5 Luật Bầu cử).
Việc tổ chức hội nghị cử tri nơi công tác hoặc nơi làm việc để lấy ý kiến đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân (gồm người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử) được tổ chức ở nơi người ứng cử công tác hoặc làm việc (nếu có). Trường hợp người ứng cử có nhiều nơi công tác hoặc nơi làm việc thì tổ chức lấy ý kiến của cử tri nơi người đó công tác hoặc làm việc thường xuyên.
 Số lượng cử tri tham dự hội nghị cử tri nơi công tác hoặc nơi làm việc để lấy ý kiến về người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân ở những nơi có dưới một trăm cử tri thì tổ chức hội nghị toàn thể, nhưng phải bảo đảm ít nhất là hai phần ba tổng số cử tri tham dự.
Nơi có từ một trăm cử tri trở lên thì có thể tổ chức hội nghị đại diện cử tri nhưng phải bảo đảm ít nhất là bảy mươi cử tri tham dự. Tùy đặc điểm, tình hình thực tế của cơ quan, tổ chức, đơn vị, Ban chấp hành Công đoàn phối hợp với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phân bổ số lượng người để các tổ chức công đoàn trực thuộc cử đại diện tham dự; trường hợp không có tổ chức Công đoàn thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phân bổ số lượng người để các đơn vị trực thuộc cử đại diện tham dự.
Việc lấy ý kiến của hội nghị cử tri nơi cư trú đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân (gồm người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử) được tổ chức ở nơi người ứng cử cư trú thường xuyên tại thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố, không phân biệt có hộ khẩu thường trú hay tạm trú dài hạn. Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã phối hợp với Ủy ban nhân dân cùng cấp triệu tập và chủ trì hội nghị. Thành phần dự hội nghị do Trưởng ban công tác Mặt trận phối hợp với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố để mời cử tri đến dự. Số lượng cử tri tham dự hội nghị cử tri nơi cư trú để lấy ý kiến về người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân nơi có dưới một trăm cử tri thì tổ chức hội nghị toàn thể, nhưng phải bảo đảm trên 50% số cử tri tham dự. Nơi có từ một trăm cử tri trở lên thì phải bảo đảm ít nhất là năm mươi lăm cử tri tham dự.
Tại hội nghị cử tri nơi công tác hoặc nơi làm việc và nơi cư trú, cử tri đối chiếu với tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, nhận xét, bày tỏ sự tín nhiệm đối với người ứng cử. Biên bản hội nghị cử tri phải ghi rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn biến, kết quả hội nghị; trong đó, phải ghi rõ tổng số cử tri được triệu tập, số cử tri có mặt, ý kiến phát biểu và sự tín nhiệm của cử tri đối với từng người ứng cử.  Biên bản hội nghị cử tri nơi công tác lấy ý kiến nhận xét về người được cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương dự kiến giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội phải được gửi cùng biên bản hội nghị ban lãnh đạo của cơ quan, tổ chức, đơn vị nhận xét về người được giới thiệu ứng cử đến Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trước khi hội nghị hiệp thương lần thứ hai được tổ chức.
Thực tiễn những năm trước qua quyền bầu cử tiêu cực này chi được hiểu và dùng ở nghĩa đề cử, mà không được hiểu ở nghĩa tự ứng cử. Thực ra quyền ứng cử trước hết phải được hiểu ở nghĩa tự ứng cử, sau mới có thể đến quyền đề cử. Về nguyên tắc sự đề cử chỉ có hiệu lực khi có sự đồng ý ra ứng cử của người được đề cử. Nếu không có sự đồng ý của người được đề cử thì không một tập thể nào có thể áp đạt ý chí mình cho họ. Đó là quyền con người của họ.
Các điều Luật bầu cử đại biểu lại quy định chặt chẽ việc giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương. So với trước đây, pháp luật đã có nhiều đổi mới, nhưng với cách thức bầu cử hiện nay vẫn cònsự bất bình đẳng sâu sắc giữa người đề cử và người tự ứng cử. Mặc dù theo quy định của Luật bầu cử thì quy trình tự ứng cử đơn giản hơn nhiều với những người được đề cử. Chính vì lẽ đơn giản quy trình cho người tự ứng cử nên đại biểu nhiều khóa Quốc hội Trần Du Lịch trên diễn đàn Quốc hội đã phải nói rằng: Quy trình tự ứng cử quá đơn giản hơn nhiều so với người được đề cử. Chính đây theo quan điểm của đại biểu, tạo nên sự bất bình đẳng giữa người đề cử và người tự ứng cử.  Bởi lẽ rằng, nếu người được đề cử phải thông qua hội nghị của nơi công tác, hoặc nơi cư trú sau khi đã phải có sự đồng ý của cơ quan tổ chức được Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất suy tôn, thì người tự ứng cử chỉ cần tự mình nộp hồ sơ tự ứng cử tại các ủy ban bầu cử tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Phát biểu của đại biểu Trần Du Lịch có lẽ đã không tính đến trách nhiệm rất nặng nề phải đảm bảo cơ cấu của các cơ quan phụ trách bầu cử các cấp đối với người được đề cử.  Trong khi đó, người tự ứng cử không được hưởng sự bảo đảm này.  Chưa kể đến vấn đề tâm lý của người Việt với câu thành ngữ nổi tiếng thể hiện cách sinh hoạt và lối sống của mình: “Muốn ăn gắp bỏ cho người.” Phong cách, lối sống của chủ nghĩa tập thể, cộng đồng không dám khẳng định cá nhân đang còn đè nặng lên cá nhân của người Việt. Cùng với những đặc điểm nói trên là vấn đề nhân sự trong bộ máy nhà nước Việt Nam, là công việc riêng của các cơ cấu tổ của lãnh đạo Đảng ủy các cấp. Tất cả những  thứ đó đè nặng lên vai của người tự ứng cử. Đây cũng là lý do giải thích tại sao số lượng người ra tự ứng cử rất thấp, và số lượng trúng cử của họ lại càng thấp hơn.
Để có những báo cáo theo đúng quy định của luật pháp, ở vòng hiệp thương lần 1 cuộc bầu cử đại biểu các khóa gần đây, nhiều địa phương phải động viên hết mức mọi thành phần tham gia ứng cử tự do, nhưng đến vòng hiệp thương thứ hai thì ngược lại, phải kêu gọi vận động người tự ứng cử rút, vì quá nhiều người ra tự ứng cử có nguy cơ phá vỡ cơ cấu đại biểu của địa phương và của trung ương. Thậm chí không ít có những địa phương tự tiện rút ứng cử viên tự do mà không hề có ít kiến của họ.  
Với hệ thống một Đảng lãnh đạo việc đề cử, ứng cử viên của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như đã trở thành thông lệ, tổng số đảng viên của Đảng tham gia hệ thống các cơ quan dân cử làm nền tảng cho bộ máy nhà nước Việt Nam đã lên tới con số kỷ lục 90 đến gần 100 %, một tỷ lệ không thể có được ở bất cứ một hệ thống dân chủ nào. Đến mức trở thành một con số quá lạ thường đối với với hệ thống bầu cử ở các quốc gia dân chủ hiện nay trên thế giới.
Kết quả ba cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội gần đây đã cho ra những con số quá thấp về tự ứng cử. Chẳng hạn như trong cuộc bầu cử Quốc hội khóa XI, cả nước có 67 người tự ứng cử, kết quả chỉ có 2 người trúng cử. Đối với cuộc bầu cử Quốc Hội khóa XII, cả nước có 238 người tự ứng cử, chỉ duy nhất 1 người trúng cử; còn đến Khóa XIII thì công tác vận động “thành công” đến mức số người tự ứng cử chỉ còn có 15, trúng cử 4 người.

Để khắc phục tình trạng trên, cũng nhằm mục đích thể hiện tốt tinh thần đổi mới của Hiến pháp mới và Luật Bầu cử mới, đợt bầu cử mới chúng ta phải thay đổi hơn nữa nhận thức về công việc tự ứng cử.  Coi và phấn đấu cho số lượng người tự ứng cử càng nhiều càng thể hiện tinh thần dân chủ của xã hội nhà nước pháp quyền, mà Hiến pháp đã quy định.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 8.
  Nguyễn Đăng Dung, GS, TS. Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nguồn:nclp.org.vn
 

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Tin mới














 

Thăm dò ý kiến

Đánh giá thái độ phục vụ của công chức Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ

Thoải mái, dễ chịu, vui vẻ

Hướng dẫn tận tình, chu đáo

Hướng dẫn thờ ơ, qua loa

Ý kiến khác

Bài giảng Luật An ninh mạng và quy tắc ứng xử trên mạng xã hội