Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng nhì

UBND xã  Tam Ngọc dẫn đầu phong trào thi đua năm 2017

UBND phường Hòa Thuận dẫn đầu phong trào thi đua Quý 3 năm 2018





















 

:::Thống kê:::

  • Đang truy cập: 31
  • Khách viếng thăm: 28
  • Máy chủ tìm kiếm: 3
  • Hôm nay: 695
  • Tháng hiện tại: 139091
  • Tổng lượt truy cập: 11531518

Tập san tuyên truyền pháp luật số 2/2016

Đăng lúc: Chủ nhật - 07/08/2016 10:22 - Người đăng bài viết: Tuphaptamky
CLICK VAO DAY DE THI TIM HIEU PHAP LUAT - GIẢI THƯỞNG 6 TRIỆU ĐỒNG/ĐỢT
LỜI NÓI ĐẦU Thời gian qua, công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật trên địa bàn thành phố đã triển khai thường xuyên, đồng bộ từ thành phố đến xã phường, thôn khối phố bằng nhiều hình thức khác nhau. Nhằm đa dạng hóa công tác phổ biến giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này đối với cán bộ và nhân dân. Để công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật được thường xuyên, có hiệu quả, UBND thành phố đã chỉ đạo HĐPH biên soạn tài liệu tuyên truyền để phục vụ cho công tác phổ biến giáo dục pháp luật cho cán bộ và nhân dân.

Việc biên soạn tài liệu này, chúng tôi tham khảo nhiều tập san khác nhau ở trong và ngoài tỉnh. Tuy nhiên để phù hợp với cán bộ công chức, viên chức, người lao động, đoàn viên, hội viên các đoàn thể và nhân dân trên địa bàn thành phố. Chúng tôi rất mong được nhận sự góp ý để tài liệu này thực sự cần thiết và hữu ích cho các phòng ban, ngành đoàn thể và địa phương.
Mọi góp ý xin gửi về địa chỉ:
Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ
70 Hùng Vương Tam Kỳ Quảng Nam
Điện thoại: 0510.3851.772
Website: Http://tuphaptamky.gov.vn
 Email: tuphaptamky@yahoo.com.vn

PHẦN I
VĂN BẢN CHÍNH SÁCH MỚI
--------------
I. VĂN BẢN TRUNG ƯƠNG
1. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Điểm chú ý trong Bộ luật TTDS lần này, Tòa án được áp dụng tập quán để giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định; tập quán không được trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự. Tương tự, khi yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự cũng có quyền viện dẫn tập quán để yêu cầu Tòa án xem xét áp dụng; nếu đương sự viện dẫn các tập quán khác nhau thì tập quán có giá trị áp dụng là tập quán được thừa nhận tại nơi phát sinh vụ việc dân sự. Tòa án cũng không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.
Bộ luật TTDS năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, thay thế cho Bộ luật TTDS năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011.
 2. Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015
Luật lần này quy định, người lao động được quyền từ chối làm việc trong trường hợp thấy rõ nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, đã báo cáo và vẫn được hưởng nguyên lương.
Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ được doanh nghiệp đóng Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Mức đóng tối đa là 1% trên quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của người lao động.
Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016.
3. Luật An toàn thông tin mạng năm 2015
Luật An toàn thông tin mạng 2015 gồm 8 chương 54 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016. Luật này quy định về hoạt động an toàn thông tin mạng, quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm an toàn thông tin mạng; mật mã dân sự; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an toàn thông tin mạng; kinh doanh trong lĩnh vực an toàn thông tin mạng; phát triển nguồn nhân lực an toàn thông tin mạng; quản lý nhà nước về an toàn thông tin mạng.
Theo đó, tổ chức, cá nhân không được gửi thông tin mang tính thương mại vào địa chỉ điện tử (bao gồm địa chỉ thư điện tử, số điện thoại, địa chỉ Internet và hình thức tương tự khác) của người tiếp nhận khi chưa được người tiếp nhận đồng ý hoặc khi người tiếp nhận đã từ chối.
4. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 gồm 17 chương, 173 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016, được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển hai Luật là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004, hợp nhất thành một Luật áp dụng thống nhất cho việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật từ Trung ương đến địa phương.
Luật lần này quy định, văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thi hành thì văn bản hướng dẫn hoặc quy định chi tiết văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực. Văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung phải được hợp nhất với văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung.
Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp huyện, cấp xã: Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành nghị quyết, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật giao.
5. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015
Luật quy định về hoạt động giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội; Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân.
Liên quan đến chất vấn và trả lời chất vấn, Luật quy định người bị chất vấn phải trả lời trực tiếp, đầy đủ vấn đề mà đại biểu Quốc hội đã chất vấn, không được ủy quyền cho người khác trả lời thay; xác định rõ trách nhiệm, biện pháp và thời hạn khắc phục hạn chế, bất cập (nếu có).
Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016.
6. Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015
Luật này là cơ sở để mọi cá nhân, tổ chức thực hiện bảo vệ tài nguyên, môi trường biển và hải đảo của nước ta. Theo đó:
- Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam sẽ được tổ chức từ ngày 01 đến 08/6 hằng năm.
- Các hải đảo sẽ được điều tra cơ bản, đánh giá tổng thể, toàn diện về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường; thống kê, phân loại để lập hồ sơ và định hướng khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả.
- Việc nhận chìm vật, chất ở biển chỉ được thực hiện khi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp phép chứ không phải diễn ra tùy tiện.
Đây là quy định rất quan trọng giúp tránh các tác động có hại đến sức khỏe con người, bảo vệ tiềm năng phát triển kinh tế của đất nước; hạn chế tối đa ảnh hưởng xấu tới môi trường, hệ sinh thái biển.
Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016.
7. Luật Thống kê năm 2015
Luật gồm 9 chương 72 điều và 01 phụ lục Danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, Luật Thống kê 2003 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực, trừ “Phân loại thống kê, chế độ báo cáo thống kê” được tiếp tục thực hiện cho đến hết ngày 30/6/2018.
Luật nghiêm cấm việc khai man, làm sai lệch dữ liệu thông tin thống kê; Can thiệp, ép buộc, áp đặt, mua chuộc, đe dọa, dụ dỗ người khác khai man, làm sai lệch dữ liệu, thông tin thống kê và sử dụng thông tin thống kê; Báo cáo, công bố, phổ biến thông tin thống kê không chính xác; Tiết lộ dữ liệu, thông tin thống kê chưa được công bố; sử dụng dữ liệu, thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân ngoài mục đích thống kê chưa được sự đồng ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó…
          Phải giữ bí mật thống kê gắn với tên, địa chỉ cụ thể của từng tổ chức, cá nhân; Thông tin thống kê chưa được người có thẩm quyền công bố; Thông tin thống kê thuộc Danh mục bí mật Nhà nước….
8. Luật Khí tượng thủy văn năm 2015
Luật Khí tượng thủy văn 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016. Luật quy định tổ chức, cá nhân hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn phải chịu trách nhiệm về bản tin dự báo, cảnh báo do mình ban hành. Thông tin dự báo, cảnh báo phải được cập nhật thường xuyên, kịp thời theo diễn biến của hiện tượng khí tượng thủy văn; dễ hiểu, dễ sử dụng và được chuyển tải bằng ngôn ngữ tiếng Việt.
Bổ sung ngành, nghề dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn vào Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
9. Luật Thú y năm 2015
Luật Thú y bao gồm 7 chương, 116 điều có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, quy định về phòng bệnh, chữa bệnh, chống dịch bệnh động vật; kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật; kiểm soát giết mổ động vật, sơ chế, chế biến động vật, sản phẩm động vật; kiểm tra vệ sinh thú y; quản lý thuốc thú y; hành nghề thú y. Luật có một số quy định mới so với Pháp lệnh thú y năm 2004, như:
Người được cử đi hoạt động thú y theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước bị lây nhiễm bệnh, bị thương, chết sẽ được xem xét hưởng chế độ, chính sách như đối với thương binh, liệt sĩ theo quy định về ưu đãi người có công với cách mạng.
Người chăn nuôi, sử dụng động vật phải đối xử nhân đạo, giảm thiểu đau đớn, sợ hãi với động vật trong chăn nuôi, vận chuyển, chữa bệnh và giết mổ động vật. Việc giết mổ động vật để kinh doanh phải được thực hiện tại cơ sở giết mổ tập trung đảm bảo yêu cầu vệ sinh thú y.
10. Luật Thuế GTGT, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế năm 2016
Từ ngày 01/7/2016, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô sẽ được áp dụng theo khung thuế suất mới. Cụ thể, từ 1-7 đến hết 31-12, thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô chở người từ 9 chỗ trở xuống, có dung tích xi lanh từ 1.500cm3 trở xuống là 40%.
Từ năm 2018 trở đi, mức thuế suất là 35%. Với xe ô tô chở người từ 10 đến dưới 16 chỗ và ô tô chở người từ 16 đến dưới 24 chỗ, thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt giảm từ 30% xuống còn 15% và từ 25% xuống còn 10%.
Ngoài ra, người nộp thuế chậm nộp tiền thuế so với thời hạn quy định sẽ phải nộp đủ tiền thuế và tiền chậm nộp theo mức bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp, thay vì mức 0,05%/ngày như quy định hiện hành.
11. Luật Điều ước quốc tế năm 2016
Luật Điều ước quốc tế năm 2016 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, có những nội dung đáng chú ý như sau:
- Không ký kết và thực hiện điều ước quốc tế (ĐƯQT) trái với Hiến pháp.
- Trường hợp Hiến pháp và ĐƯQT mà Việt Nam tham gia có nội dung khác nhau thì áp dụng Hiến pháp.
12. Luật Trưng cầu ý dân năm 2015
Theo Luật Trưng cầu ý dân 2015 thì công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi (trừ các trường hợp quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 25 Luật này) có quyền bỏ phiếu biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.
Theo đó, Quốc hội xem xét, quyết định trưng cầu ý dân về các vấn đề sau đây:
- Toàn văn Hiến pháp hoặc một số nội dung quan trọng của Hiến pháp.
- Vấn đề đặc biệt quan trọng về chủ quyền, lãnh thổ quốc gia, về quốc phòng, an ninh, đối ngoại có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của quốc gia.
- Vấn đề đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của đất nước.
- Vấn đề đặc biệt quan trọng khác của đất nước.
Kết quả trưng cầu ý dân có giá trị quyết định đối với vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân và có hiệu lực kể từ ngày công bố.
Luật Trưng cầu ý dân 2015 có hiệu lực từ ngày 01/7/2016.
13. Luật Tố tụng hành chính năm 2015
Luật Tố tụng hành chính (sửa đổi) gồm có 23 chương với 372 điều và sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, trừ các quy định cụ thể hóa các quy định mới có liên quan của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017. Luật có một số điểm mới như: Được nộp đơn khởi kiện bằng hình thức trực tuyến, theo đó người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu có địa chỉ thư điện tử thì được ghi vào nội dung đơn khởi kiện. Người khởi kiện có thể gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng phương thức gửi trực tuyến qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có). Ngày khởi kiện được xác định là ngày gửi đơn. Sau khi nhận đơn trực tuyến, Tòa án in ra bản giấy và ghi vào sổ nhận đơn và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án đồng thời trả lời cho người khởi kiện biết qua thư điện tử.
Luật  bổ sung quy định: Trường hợp người bị kiện là cơ quan, tổ chức hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức thì người bị kiện chỉ được ủy quyền cho cấp phó của mình đại diện. Người được ủy quyền phải tham gia vào quá trình giải quyết toàn bộ vụ án, thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người bị kiện theo quy định của Luật.
14. Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức Quốc phòng năm 2015
Luật có 7 chương, 52 điều. Theo Luật này, thời hạn phục vụ tại ngũ của quân nhân chuyên nghiệp trong thời bình như sau: Phục vụ có thời hạn ít nhất là 06 năm kể từ ngày quyết định chuyển thành quân nhân chuyên nghiệp; phục vụ cho đến hết hạn tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều này.
Hạn tuổi phục vụ cao nhất của công nhân và viên chức quốc phòng được điều chỉnh như sau: Nam đủ 60 tuổi và Nữ đủ 55 tuổi. Hạn tuổi phục vụ tại ngũ cao nhất của cấp úy và thiếu tá, trung tá quân nhân chuyên nghiệp được quy định theo cấp bậc quân hàm, không phân biệt nam nữ, lần lượt là 52 tuổi và 54 tuổi; riêng với thượng tá quân nhân chuyên nghiệp, là 56 tuổi với nam và 55 tuổi với nữ. Khi chuyển ngành, quân nhân chuyên nghiệp sẽ được bảo lưu mức lương, phụ cấp thâm niên trong 18 tháng.
15. Lùi hiệu lực thi hành đối với 04 Bộ luật, Luật
Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ Luật Hình sự số 100/2015/QH13, Bộ Luật Tố tụng Hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 từ ngày 01/7/2016 cho đến ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự có hiệu lực thi hành, trừ một số điều (như quy định tại điểm a, b của Nghị quyết).
Theo đó, Nghị quyết quy định, kể từ ngày 01/7/2016, thực hiện các quy định có lợi cho người phạm tội tại khoản 3 Điều 7 Bộ Luật hình sự năm 2015 và điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 về việc thi hành Bộ Luật hình sự; tiếp tục áp dụng khoản 2 Điều 1 và các quy định khác có lợi cho người phạm tội tại Nghị quyết số 109. Áp dụng các quy định của Bộ Luật tổ tụng hình sự năm 2015 để thi hành các quy định có lợi cho người phạm tội của Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 109.
Nghị quyết cũng nêu rõ, tiếp tục áp dụng Bộ Luật hình sự số 15/1999/QH10 (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 37/2009/QH12), Bộ Luật tố tụng hình sự số 19/2003/QH11, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự số 23/2004/PL-UBTVQH11 (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Pháp lệnh số 30/2006/PL-UBTVQH11 và Pháp lệnh số 09/2009/PL-UBTVQH12), Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ban hành Quy chế về tạm giữ, tạm giam (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 98/2002/NĐ-CP và Nghị định số 09/2011/NĐ-CP của Chính phủ) cho đến ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự có hiệu lực thi hành.
Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 30/6/2016.
16. Chính sách mới về trợ cấp đối với quân nhân
Có hiệu lực từ 01/6/2016, Nghị định 27/2016/NĐ-CP quy định hạ sĩ quan, binh sĩ phục vụ tại ngũ, xuất ngũ và thân nhân của hạ sĩ quan, binh sĩ được trợ cấp mức 3.000.000 đồng/suất/lần nếu gặp tai nạn, hỏa hoạn, thiên tai dẫn đến bị sập nhà, trôi nhà, cháy nhà hoặc phải di dời chỗ ở, hoặc tài sản bị hư hỏng, thiệt hại nặng về kinh tế (không quá 2 lần/năm đối với một hạ sĩ quan, binh sĩ).
Thân nhân hạ sĩ quan, binh sĩ khi ốm đau từ một tháng trở lên hoặc điều trị một lần tại bệnh viện từ 7 ngày trở lên thì được trợ cấp mức 500.000 đồng/thân nhân/lần (không quá 2 lần/năm). Thân nhân của hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ hy sinh, từ trần hoặc mất tích thì được trợ cấp mức 2.000.000 đồng/người.
17. Bỏ thu phí sử dụng đường bộ đối với xe mô tô, máy
Nghị định 28/2016/NĐ-CP quy định việc bỏ thu phí sử dụng đường bộ đối với xe môtô hai bánh, xe môtô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe tương tự có hiệu lực từ 05/6/2016. Phí sử dụng đường bộ được thu hàng năm trên đầu phương tiện giao thông cơ giới đường bộ tới đây chỉ bao gồm: ôtô, máy kéo, rơ moóc, sơ mi rơ moóc được kéo bởi ôtô, máy kéo và các loại xe tương tự.
18. Nghị định 34/2016/NĐ-CP hướng dẫn Luật ban hành văn bản QPPL 2015
Nghị định quy định rõ Nghị quyết do HĐND và quyết định do UBND ban hành không phải là văn bản QPPL gồm: Nghị quyết miễn nhiệm, bãi nhiệm đại biểu HĐND và các chức vụ khác; Nghị quyết phê chuẩn kết quả bầu cử đại biểu HĐND và bầu các chức vụ khác; Nghị quyết giải tán HĐND; Nghị quyết phê chuẩn cơ cấu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương; Nghị quyết thành lập, sáp nhập, giải thể cơ quan chuyên môn thuộc UBND; quyết định thành lập các ban, ban chỉ đạo, hội đồng, ủy ban để thực hiện nhiệm vụ trong một thời gian xác định. Nghị quyết tổng biên chế ở địa phương; Nghị quyết dự toán, quyết toán ngân sách địa phương; Quyết định phê duyệt kế hoạch; Quyết định giao chỉ tiêu cho từng cơ quan, đơn vị; Quyết định về chỉ tiêu biên chế cơ quan, đơn vị; quyết định về khoán biên chế, kinh phí quản lý hành chính cho từng cơ quan chuyên môn thuộc UBND; các nghị quyết, quyết định khác không có nội dung quy định tại các Điều 27, 28, 29 và 30 của Luật cũng không phải là văn bản QPPL.
19. Từ 1/5, lương cơ sở công chức tăng lên 1,21 triệu đồng/tháng 
Theo Nghị định số 47/2016/NĐ-CP ngày 26/05/2016 của Chính phủ quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, từ ngày 01/05/2016, mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức, người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước; người làm việc trong tổ chức cơ yếu; sĩ quan, hạ sĩ quan và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn và tổ dân phố… sẽ chính thức tăng thêm 60.000 đồng/tháng, từ 1,15 triệu đồng/tháng lên 1,21 triệu đồng/tháng.
          Đối với người có hệ số lương từ 2,34 trở xuống đã được hưởng tiền lương tăng thêm theo Nghị định số 17/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015, nếu tổng tiền lương theo ngạch, bậc, chức vụ, chức danh và các khoản phụ cấp tiền lương (nếu có) tính theo mức lương cơ sở 1,21 triệu đồng/tháng của tháng 05/2016 thấp hơn tổng tiền lương theo ngạch, bậc, chức vụ, chức danh, các khoản phụ cấp lương (nếu có) và tiền lương tăng thêm theo Nghị định số 17/2015/NĐ-CP tính theo mức lương cơ sở 1,15 triệu đồng/tháng của tháng 04/2016 thì được hưởng chênh lệch cho bằng tổng tiền lương đã hưởng của tháng 04/2016. Mức hưởng chênh lệch này không dùng để tính đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các loại phụ cấp lương.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/7/2016.
20. Tăng mức xử phạt gần 100 hành vi vi phạm giao thông
Từ ngày 1/8, Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt chính thức có hiệu lực. Gần 100 hành vi vi phạm giao thông được điều chỉnh tăng mức xử phạt. Chẳng hạn, người điều khiển ôtô và các loại xe tương tự không chấp hành hiệu lực của đèn tín hiệu giao thông (vượt đèn đỏ và đèn vàng) bị phạt từ 1,2 triệu đến 2 triệu đồng. Với người điều khiển môtô, xe gắn máy (kể cả xe điện máy) và các loại xe tương tự nếu vượt đèn vàng bị phạt tiền 300.000- 400.000 đồng.
Hành vi dùng tay sử dụng điện thoại di động khi đang điều khiển ôtô chạy trên đường sẽ bị phạt tiền 600.000-800.000 đồng và tước giấy phép lái xe 1-3 tháng.
21. Trợ cấp một lần đối với người có thành tích tham gia kháng chiến
Theo Quyết định 24/2016/QĐ-TTg ngày 14/6/2016 của Thủ tướng Chính phủ, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8/2016, những người có thành tích tham gia kháng chiến được tặng bằng khen của Thủ tướng; bằng khen của cấp bộ, cấp tỉnh sẽ được hưởng trợ cấp một lần theo mức sau:
Người được tặng Bằng khen của Thủ tướng là 1.815.000 đồng; người được tặng Bằng khen của cấp bộ, cấp tỉnh là 1.210.000 đồng.
Người có bằng khen đã từ trần mà chưa được hưởng trợ cấp một lần này thì đại diện thân nhân được hưởng trợ cấp theo mức như trên.
 
II. VĂN BẢN ĐỊA PHƯƠNG
1. Nghị quyết số 203/2016/NQ-HĐND ngày 26/04/2016 của HĐND tỉnh Quảng Nam về thu tiền bảo vệ, phát triển đất trồng lúa trên địa bàn tỉnh
Quy định mức tiền phải nộp đối với cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất từ đất chuyên trồng lúa nước sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp. (Đất chuyên trồng lúa nước là đất trồng được hai vụ lúa nước trở lên trong năm).
Mức thu và thời gian thực hiện
a) Mức thu
Mức thu tiền bảo vệ, phát triển đất trồng lúa        =       70%  x        Diện tích     x        Giá của loại đất trồng lúa
Trong đó:
Diện tích: Là phần diện tích đất chuyên trồng lúa nước chuyển sang đất phi nông nghiệp ghi cụ thể trong quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất chuyên trồng lúa nước sang đất phi nông nghiệp của cơ quan có thẩm quyền;
Giá của loại đất trồng lúa: Tính theo Bảng giá đất đang được áp dụng tại thời điểm giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành.
b) Thời gian thực hiện: Kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015 (theo quy định tại Nghị định số 35/2015/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 18/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính).
2. Quyết định 07/2016/QĐ-UBND Quy định mức thu, nộp, quản lý và sử dụng phí vệ sinh trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Quyết định quy định mức thu, nộp, quản lý và sử dụng phí vệ sinh trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, với các nội dung chính sau:
- Mức thu (đã bao gồm thuế giá trị gia tăng) đối với cá nhân, hộ gia đình không sản xuất, kinh doanh, cụ thể như sau:
* Địa bàn các thành phố Tam Kỳ và Hội An:
- Khu vực nội thành: Các khu vực thuộc địa bàn các phường, mức thu như sau:
+ Cá nhân, hộ gia đình mặt tiền các tuyến đường (gồm đường đã đặt tên hoặc chưa đặt tên, đường trong khu dân cư): 25.000 đồng/hộ/tháng.
+ Cá nhân, hộ gia đình trong kiệt, hẻm các tuyến đường (gồm đường đã đặt tên hoặc chưa đặt tên, đường trong khu dân cư): 20.000 đồng/hộ/tháng.
- Khu vực còn lại: Các khu vực thuộc địa bàn các xã: 18.000 đồng/hộ/tháng.
* Địa bàn các huyện, thị xã đồng bằng:
- Cá nhân, hộ gia đình mặt tiền các tuyến đường (gồm đường đã đặt tên hoặc chưa đặt tên, đường trong khu dân cư) thuộc thị trấn: 20.000 đồng/hộ/tháng.
- Cá nhân, hộ gia đình thuộc khu vực còn lại: 17.000 đồng/hộ/tháng.
* Địa bàn các huyện miền núi thấp (Hiệp Đức, Tiên Phước, Nông Sơn):
- Cá nhân, hộ gia đình mặt tiền các tuyến đường (gồm đường đã đặt tên hoặc chưa đặt tên, đường trong khu dân cư) thuộc thị trấn: 15.000 đồng/hộ/tháng.
- Cá nhân, hộ gia đình thuộc các khu vực còn lại: 12.000 đồng/hộ/tháng.
* Địa bàn các huyện miền núi cao:
- Cá nhân, hộ gia đình mặt tiền các tuyến đường (gồm đường đã đặt tên hoặc chưa đặt tên, đường trong khu dân cư) thuộc thị trấn: 12.000 đồng/hộ/tháng.
- Cá nhân, hộ gia đình thuộc khu vực còn lại: 10.000 đồng/hộ/tháng.
* Mức thu (đã bao gồm thuế giá trị gia tăng) đối với cá nhân, hộ gia đình có sản xuất, kinh doanh và có lượng rác thải dưới 01 m3/tháng, như sau:
                                                                      ĐVT: đồng/hộ/tháng.
TT Đối tượng thu Mức thu
Các thành phố Tam Kỳ, Hội An Các huyện, thị xã đồng bằng Các huyện miền núi thấp Các huyện miền núi cao
1 Lượng rác thải dưới 0,5m3/tháng 75.000 60.000 45.000 35.000
2 Lượng rác thải từ 0,5 m3/tháng đến 0,8 m3/tháng 100.000 80.000 60.000 50.000
3 Lượng rác thải trên 0,8 m3/tháng đến dưới 01m3/tháng 125.000 100.000 75.000 65.000
4 Nhà cổ có tổ chức tham quan 125.000      
5 Kinh doanh ăn, uống nhỏ và có lượng rác thải dưới 01 m3/tháng 125.000 100.000 75.000 65.000
 
* Mức thu (đã bao gồm thuế giá trị gia tăng) đối với các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, xã hội, như sau: 
TT Đối tượng thu  
Đơn vị tính
Mức thu
Các thành phố Tam Kỳ, Hội An Các huyện, thị xã đồng bằng Các huyện miền núi thấp Các huyện miền núi cao
1 Cơ quan Hành chính sự nghiệp; Trường học phổ thông các cấp, Trường mẫu giáo, nhà trẻ; nhà thờ, chùa  
Đồng/đơn vị/tháng
125.000 100.000 75.000 60.000
2 Điểm kinh doanh, chi nhánh doanh nghiệp, trụ sở doanh nghiệp, Ngân hàng Đồng/đơn vị/tháng 135.000 110.000 80.000 65.000
3 Cửa hàng, khách sạn, nhà hàng kinh doanh ăn uống; Trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, Dạy nghề; Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh có khối lượng rác thải dưới 1,5 m3/tháng  
 
Đồng/đơn vị/tháng
245.000
 
 
200.000 150.000 125.000
4 Cửa hàng, khách sạn, nhà hàng kinh doanh ăn uống; Trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, Dạy nghề; Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh có khối lượng rác trên 1,5 m3/tháng  
 
Đồng/m3
190.000 155.000 120.000 100.000
5 Bệnh viện, cơ sở y tế, chợ, nhà máy, xí nghiệp, cơ sở SXKD, nhà ga, bến xe, bến tàu, bến neo đậu tàu thuyền, bãi tắm  
Đồng/m3
190.000 155.000 120.000 100.000
6 Công trình xây dựng  
 
Đồng/m3
190.000 đồng/m3 hoặc 0,05% giá trị xây lắp 155.000 đồng/m3 hoặc 0,05% giá trị xây lắp 120.000 đồng/m3 hoặc 0,05% giá trị xây lắp 100.000 đồng/m3 hoặc 0,05% giá trị xây lắp
 * Mức thu đối với rác thải nguy hại: Các đơn vị đủ điều kiện hành nghề thu gom chất thải nguy hại trên địa bàn tỉnh trước khi thực hiện dịch vụ phải lập phương án mức thu phí vệ sinh đối với rác thải nguy hại cho từng trường hợp cụ thể theo khung mức thu quy định tại khoản 2, Điều 1, Nghị quyết số 191/2015/NQ-HĐND ngày 11/12/2015 của HĐND tỉnh, gửi Sở Tài chính thẩm định trình UBND tỉnh phê duyệt để tổ chức thu.
 
 
 

PHẦN II
ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN
Những nội dung cơ bản của luật Tố tụng hành chính năm 2015
------------
Luật tố tụng hành chính được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25/11/2015 (gọi tắt là Luật TTHC năm 2015). Luật được Chủ tịch nước ký lệnh Công bố ngày 08/12/2015 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016.
I. BỐ CỤC CỦA LUẬT
Luật TTHC năm 2015 gồm 23 chương, 372 điều trong đó sửa đổi, bổ sung 198 điều, giữ nguyên 63 điều, bổ sung 111 điều mới, cụ thể như sau:
Chương I: Những quy định chung, gồm có 29 điều (Điều 1-Điều 29).
Chương II: Thẩm quyền của Toà án, gồm có 06 điều (Điều 30-Điều 35).
Chương III: Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và việc thay đổi người tiến hành tố tụng, gồm có 17 điều (Điều 36-Điều 52).
Chương IV: Người tham gia tố tụng, quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, gồm có 13 điều (Điều 53-Điều 65).
Chương V: Các biện pháp khẩn cấp tạm thời, gồm có 12 điều
(Điều 66-Điều 77).
Chương VI: Chứng minh và chứng cứ, gồm có 21 điều (Điều 78-Điều 98).
Chương VII: Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng, gồm có 12 điều (Điều 99-Điều 110).
Chương VIII: Phát hiện và kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, gồm có 04 điều (Điều 111-Điều 114).
Chương IX: Khởi kiện, thụ lý vụ án, gồm có 15 điều (Điều 115-Điều 129).
Chương X: Thủ tục đối thoại và chuẩn bị xét xử, gồm có 18 điều
(Điều 130-Điều 147).
Chương XI: Phiên toà sơ thẩm, gồm có 03 mục:
+ Mục 1: Yêu cầu chung về phiên toà sơ thẩm, gồm có 21 điều
(Điều 148-Điều 168).
+ Mục 2: Thủ tục bắt đầu phiên toà, gồm có 06 điều (Điều 169-Điều 174).
+ Mục 3: Tranh tụng tại phiên toà, gồm có 23 điều (Điều 175-Điều 197).
Chương XII: Thủ tục giải quyết khiếu kiện danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân, gồm có 05 điều (Điều 198-Điều 202).
Chương XIII: Thủ tục phúc thẩm, gồm có 03 mục:
+ Mục 1: Quy định chung về thủ tục phúc thẩm, gồm có 30 điều
(Điều 203-Điều 232).
+ Mục 2: Thủ tục bắt đầu phiên toà phúc thẩm, gồm có 03 điều
(Điều 233-Điều 235).
+ Mục 3: Tranh tụng tại phiên toà phúc thẩm, gồm có 09 điều (Điều 236- Điều 244).
Chương XIV: Giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục rút gọn tại Toà án, gồm có 2 mục:
+ Mục 1: Giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục rút gọn tại Toà án cấp sơ thẩm, gồm có 06 điều (Điều 245-Điều 250).
+ Mục 2: Giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục rút gọn tại Toà án cấp phúc thẩm, gồm có 03 điều (Điều 251-Điều 253).
Chương XV: Thủ tục giám đốc thẩm, gồm có 26 điều (Điều 254-Điều 279).
Chương XVI: Thủ tục tái thẩm, gồm có 07 điều (Điều 280-Điều 286).
Chương XVII: Thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, gồm có 11 điều (Điều 287-Điều 297).
Chương XVIII: Thủ tục giải quyết vụ án hành chính có yếu tố nước ngoài, gồm có 11 điều (từ Điều 298 đến Điều 308).
Chương XIX: Thủ tục thi hành bản án, quyết định của Toà án về vụ án hành chính, gồm có 07 điều (Điều 309-Điều 315).
Chương XX: Xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng hành chính, gồm có 11 điều (Điều 316-Điều 326).
Chương XXI: Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính, gồm có                                                                                                                                                                                                                            17 điều (Điều 327-Điều 343).
Chương XXII: Án phí, lệ phí và các chi phí tố tụng khác, gồm có 02 mục:
+ Mục 1: Án phí, lệ phí, gồm có 08 điều (Điều 344-Điều 351).
+ Mục 2: Các chi phí tố tụng khác, gồm có 19 điều (Điều 352-Điều 370).
Chương XXIII: Điều khoản thi hành, gồm có 02 điều (Điều 371-Điều 372).
IV. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT
1. Về một số khái niệm
Bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung một số khái niệm của Luật TTHC năm 2010 như quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức, Luật TTHC năm 2015 còn bổ sung quy định mới một số thuật ngữ như:
Quyết định hành chính bị kiện: Là quyết định hành chính mà quyết định đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Hành vi hành chính bị kiện: Là hành vi hành chính mà hành vi đó làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Vụ án phức tạp: Là vụ án có liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều người; có tài liệu, chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thời gian kiểm tra, xác minh, đánh giá hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn; có đương sự là người nước ngoài đang ở nước ngoài hoặc người Việt Nam đang cư trú, học tập, làm việc ở nước ngoài.
Trở ngại khách quan: Là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền hoặc nghĩa vụ của mình.
Sự kiện bất khả kháng: Là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.
2. Về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử
Luật TTHC năm 2015 bổ sung các quy định để cụ thể hoá nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm theo khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013, như:
- Quy định nguyên tắc về bảo đảm tranh tụng trong xét xử (Điều 18):
1. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Luật này.
2. Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp, cung cấp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án hành chính và có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định của Luật này.
3. Trong quá trình xét xử, mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai, trừ trường hợp không được công khai theo quy định của Luật này. Tòa án điều hành việc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án, quyết định”.
- Bổ sung quyền, nghĩa vụ của đương sự trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ; quy định trách nhiệm của Toà án trong việc hỗ trợ đương sự thu thập tài liệu, chứng cứ, tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự thực hiện quyền tranh tụng:
Các đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp;
+ Có quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được;
+ Đề nghị Tòa án buộc bên đương sự khác xuất trình tài liệu, chứng cứ mà họ đang lưu giữ, quản lý;
+ Đề nghị Tòa án ra quyết định buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ...;
+ Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ và tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án hoặc đương sự;
+ Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát khi có yêu cầu và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó;
Trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát biết...
- Bổ sung quy định về quyền tiếp cận, trao đổi tài liệu, chứng cứ của đương sự (Điều 98):
“1. Đương sự có quyền được biết, ghi chép, sao chụp, trao đổi tài liệu, chứng cứ do đương sự khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được, trừ tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 96 của Luật này.
2. Khi đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án thì trong thời hạn 05 ngày làm việc họ phải thông báo cho đương sự khác biết về việc họ đã giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án để đương sự khác liên hệ với Tòa án thực hiện quyền tiếp cận tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án thu thập được tài liệu, chứng cứ thì Tòa án phải thông báo cho đương sự biết để họ thực hiện quyền tiếp cận tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 1 Điều này”.
- Quy định về tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại, trừ vụ án theo thủ tục rút gọn và vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri. Việc tổ chức phiên họp này tạo điều kiện cho các đương sự tiếp cận tài liệu, chứng cứ của nhau và yêu cầu, phạm vi khởi kiện, yêu cầu độc lập, việc bổ sung tài liệu, chứng cứ, đề nghị Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ, triệu tập đương sự khác, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa...
- Quy định về thủ tục hỏi, trình bày chứng cứ, tranh luận tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ để vừa bảo đảm thực hiện đúng, đủ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm tố tụng của Toà án, người tham gia tố tụng theo đúng nguyên tắc tranh tụng, vừa bảo đảm phán quyết của Toà án khách quan, chính xác, đúng pháp luật trên cơ sở xem xét đầy đủ chứng cứ và kết quả tranh tụng...

3. Về bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định: Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật trợ giúp pháp lý để họ thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án; không ai được hạn chế quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hành chính (Điều 19).
4. Về đối thoại
Theo Luật TTHC năm 2010 trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, Toà án tạo điều kiện để các đương sự đối thoại về việc giải quyết vụ án (đối thoại không phải là thủ tục bắt buộc). Luật TTHC năm 2015 quy định đối thoại là thủ tục bắt buộc và là nhiệm vụ của Thẩm phán khi được Chánh án Tòa án phân công giải quyết vụ án. Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định cụ thể về nguyên tắc đối thoại; về những vụ án không tiến hành đối thoại được; về thông báo phiên họp đối thoại; thành phần, thủ tục đối thoại; biên bản đối thoại và xử lý kết quả đối thoại (các điều từ Điều 134 đến Điều 140).
5. Về giám đốc việc xét xử
Luật TTHC năm 2015 quy định Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của các Tòa án; Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc việc xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Tòa án cấp tỉnh), Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (Tòa án cấp huyện) trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ để bảo đảm việc áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử (Điều 24). Đây là quy định để bảo đảm phù hợp với quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 về việc Toà án nhân dân được tổ chức theo 4 cấp.
6. Về xem xét, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, hành vi hành chính có liên quan trong vụ án hành chính
Để Toà án thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính đúng pháp luật, Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, Tòa án có quyền xem xét về tính hợp pháp của văn bản hành chính, hành vi hành chính có liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện và kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại văn bản hành chính, hành vi hành chính đó và trả lời kết quả cho Tòa án theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; Tòa án có quyền kiến nghị cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật nếu phát hiện văn bản đó có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời Tòa án kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật bị kiến nghị theo quy định của pháp luật làm cơ sở để Tòa án giải quyết vụ án (Điều 6).
Để thực hiện tốt quy định nêu trên, Luật TTHC năm 2015 đã bổ sung nhiều quy định liên quan đến việc xem xét, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính có liên quan trong vụ án hành chính, như: Quy định về trình tự, thẩm quyền kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật và trách nhiệm thực hiện kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật (Chương VIII); về việc Tòa án quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án khi cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản đó (Điều 141); về quyền của Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa trong trường hợp cần phải yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, xử lý văn bản hành chính liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện hoặc phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án hành chính mà có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và Hội đồng xét xử có quyền áp dụng văn bản của cơ quan quản lý nhà nước cấp trên để quyết định nếu quá thời hạn quy định mà không nhận được văn bản trả lời của cơ quan, người có thẩm quyền (Điều 193, Điều 241)...
7. Những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
Ngoài việc kế thừa các quy định của Luật TTHC năm 2010 về những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và để bảo đảm tính khả thi, Luật TTHC năm 2015 quy định quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân và quyết định xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân không thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Luật còn bổ sung đối tượng khởi kiện vụ án hành chính là danh sách cử tri trưng cầu ý dân để bảo đảm phù hợp với Luật trưng cầu ý dân năm 2015.
8. Về thẩm quyền của từng cấp Toà án
Ngoài việc sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền của từng cấp Toà án; phân định thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và phương thức xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm để phù hợp với các quy định của Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 và bảo đảm hiệu quả của việc giải quyết khiếu kiện hành chính, Luật TTHC năm 2015 quy định đối với khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện thì việc giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp tỉnh (khoản 4 Điều 32).
Việc quy định giao cho Toà án nhân dân cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện nhằm khắc phục tồn tại, bất cập từ thực tiễn[1] nhằm đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của Đảng, Nhà nước và Nhân dân trong công tác giải quyết các khiếu kiện hành chính theo tinh thần cải cách tư pháp, nhanh chóng lập lại trật tự trong quản lý hành chính nhà nước, kịp thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
9. Về người tiến hành tố tụng hành chính
Luật TTHC năm 2015 bổ sung hai chủ thể mới là người tiến hành tố tụng gồm Thẩm tra viên, Kiểm sát viên và quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm tra viên, Kiểm tra viên trong tố tụng hành chính. Việc bổ sung hai chủ thể mới này để bảo đảm phù hợp với Luật tổ chức Tòa án nhân dân và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.
10. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Kiểm sát viên
- Luật TTHC năm 2015 bổ sung các nhiệm vụ, quyền hạn mới của Chánh án Tòa án và Thẩm phán, như: Quyền kiến nghị với cơ quan, cá nhân có văn bản hành chính, hành vi hành chính có liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản, chấm dứt hành vi đó nếu phát hiện có dấu hiệu trái với quy định của pháp luật; kiến nghị với cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật nếu phát hiện có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của Luật này; xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng hành chính theo quy định của pháp luật... Đây là những nhiệm vụ, quyền hạn mới của Chánh án Tòa án, Thẩm phán trên cơ sở cụ thể hóa quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.
- Luật còn sửa đổi, bổ sung, quy định các nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong tố tụng hành chính để phù hợp với quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.
11. Về kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng hành chính
Để giải quyết vướng mắc từ thực tiễn trong trường hợp có sự thay đổi địa giới hành chính, Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định: “Trường hợp sáp nhập, chia, tách, giải thể, điều chỉnh địa giới hành chính trong một đơn vị hành chính mà đối tượng của quyết định hành chính có sự thay đổi thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đã ra quyết định hành chính có trách nhiệm tham gia tố tụng với tư cách là người bị kiện tại Tòa án nơi cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính bị kiện. Cơ quan tiếp nhận đối tượng của quyết định hành chính bị kiện phải tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” (khoản 5 Điều 59).
12. Về người đại diện của người bị kiện trong tố tụng hành chính
- Để phù hợp với Bộ luật dân sự năm 2015, Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định về người đại diện theo pháp luật trong tố tụng hành chính đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người được Tòa án chỉ định (khoản 2 Điều 60); bổ sung quy định về người đại diện theo ủy quyền của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân: “Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia tố tụng hành chính thì các thành viên có thể ủy quyền cho một thành viên hoặc người khác làm đại diện tham gia tố tụng hành chính” (khoản 3 Điều 60).
- Theo khoản 8 Điều 49 và khoản 5 Điều 54 Luật TTHC năm 2010 thì người bị kiện có thể ủy quyền cho người đại diện tham gia giải quyết vụ án hành chính; người đại diện không được ủy quyền lại cho người thứ ba và phải thực hiện toàn bộ các quyền, nghĩa vụ tố tụng hành chính của người bị kiện. Quy định này trên thực tế đã nảy sinh bất cập đó là trong nhiều trường hợp người bị kiện ủy quyền cho cán bộ, công chức không nắm rõ hoặc không có thẩm quyền xem xét, giải quyết những việc liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện, thậm chí có trường hợp ủy quyền cho Luật sư tham gia tố tụng làm cho việc tổ chức đối thoại giữa các đương sự, việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ, tranh luận tại phiên tòa gặp khó khăn, không hiệu quả, việc giải quyết vụ án bị kéo dài, không bảo đảm để Tòa án xem xét giải quyết khách quan, toàn diện vụ án. Để khắc phục tồn tại này, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án thực chất và hiệu quả, Luật TTHC năm 2015 quy định “Trường hợp người bị kiện là cơ quan, tổ chức hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức thì người bị kiện chỉ được ủy quyền cho cấp phó của mình đại diện. Người được ủy quyền phải tham gia vào quá trình giải quyết toàn bộ vụ án, thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người bị kiện theo quy định của Luật này” (khoản 3 Điều 60).
13. Về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Theo quy định hiện hành thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự nhờ và được Toà án chấp nhận tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Việc được Tòa án chấp nhận được hiểu là việc họ được cấp Giấy chứng nhận người bào chữa. Theo Luật TTHC năm 2015, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự yêu cầu và được Tòa án làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được quy định tại khoản 4, 5 Điều 61 như sau:
“4. Khi đề nghị Tòa án làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người đề nghị phải xuất trình các giấy tờ sau đây: a) Luật sư phải xuất trình các giấy tờ quy định tại khoản 2 Điều 27 của Luật luật sư; b) Trợ giúp viên pháp lý hoặc người tham gia trợ giúp pháp lý xuất trình văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc thẻ luật sư; c) Công dân Việt Nam có đủ điều kiện quy định tại điểm c khoản 2 Điều này xuất trình giấy yêu cầu của đương sự và giấy tờ tùy thân.
5. Sau khi kiểm tra giấy tờ và thấy người đề nghị có đủ điều kiện làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị, Tòa án phải vào sổ đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và xác nhận vào giấy yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Trường hợp từ chối đăng ký thì Tòa án phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người đề nghị” .
14. Về người phiên dịch
Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định người phiên dịch đối với trường hợp có người khuyết tật nhìn hoặc người khuyết tật nghe, người khuyết tật nói: “Người biết chữ của người khuyết tật nhìn hoặc người biết nghe, nói bằng ngôn ngữ, ký hiệu của người khuyết tật nghe, người khuyết tật nói cũng được coi là người phiên dịch” (Điều 64).
15. Về thời gian giao nộp tài liệu, chứng cứ; xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ
- Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định về thời gian giao nộp chứng cứ: “Thời gian giao nộp tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ấn định nhưng không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm quy định tại Điều 130 của Luật này”; bổ sung quy định: Trường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ án thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ. Trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được tài liệu, chứng cứ và có yêu cầu hoặc xét thấy cần thiết, Tòa án có thể tự mình hoặc ủy thác tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ các tình tiết của vụ án (Điều 83). Đối với trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, đương sự mới giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Tòa án đã yêu cầu giao nộp trước đó thì đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ. Đối với tài liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự phải giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm (Điều 133).
- Ngoài việc sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể các biện pháp xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ, Luật TTHC năm 2015 còn bổ sung quy định về xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ trong giai đoạn giám đốc thẩm: “Trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, Thẩm tra viên có thể tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ quy định tại điểm a và điểm g khoản 2 Điều này. Khi Thẩm tra viên tiến hành biện pháp quy định tại điểm g khoản 2 Điều này, Tòa án phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án” (khoản 4 Điều 84).
16. Về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng
Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định mới về thủ tục cấp, tống đạt hoặc thông báo bằng phương tiện điện tử, theo đó “việc cấp, tống đạt hoặc thông báo bằng phương tiện điện tử được thực hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử”. Đây là phương thức mới và Quốc hội đã giao Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn để thi hành. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ mà Tòa án nhân dân tối cao phải thực hiện để triển khai thi hành Luật này.
17. Về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
- Để nâng cao trách nhiệm của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng hành chính, Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định về trách nhiệm của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thời hạn hoặc không áp dụng mà gây thiệt hại cho người có yêu cầu: “Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không có lý do chính đáng, gây thiệt hại cho người có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án phải bồi thường. Việc bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này được thực hiện theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước” (Điều 72).
- Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định các trường hợp Tòa án ra quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời: “Tòa án ra quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đề nghị hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng; b) Căn cứ của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không còn; c) Vụ án đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; d) Các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện theo quy định của Luật này; đ) Vụ án được đình chỉ theo quy định tại Điều 143 của Luật này” (khoản 2 Điều 74).
18. Về thời hiệu khởi kiện
Để khắc phục tình trạng người dân khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại nhưng người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại không giải quyết và không thông báo cho người khiếu nại dẫn đến nhiều trường hợp khi họ khởi kiện ra Tòa án thì thời hiệu khởi kiện đã hết vì thời hiệu tính từ ngày họ nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định: “Trường hợp đương sự khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật đến cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thời hiệu khởi kiện được quy định như sau: a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại lần hai; b) 01 năm kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền không giải quyết và không có văn bản trả lời cho người khiếu nại”.
(còn nữa ở Tập san số 3)
 

PHẦN III
TIN NỔI BẬT VỀ HOẠT ĐỘNG PHỔ BIẾN
PHÁP LUẬT TRONG QUÝ II/2016
 
1. Thành phố Tam Kỳ tổ chức Hội nghị triển khai Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015
Sáng ngày 22/4/2016, Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật thành phố Tam Kỳ tổ chức Hội nghị triển khai Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
 
Tham dự hội nghị có gần 140 đại biểu gồm đại diện Thường trực UBND, Thường trực UBMTTQVN thành phố; Lãnh đạo các Ban Xây dựng Đảng, các phòng, ban, ngành, hội, đoàn thể, thành viên HĐPH, báo cáo viên pháp luật thành phố; đại diện lãnh đạo UBND các xã, phường; Công chức Văn phòng - Thống kê; Công chức Tư pháp - Hộ tịch và Trưởng công an các xã, phường. Đ/c Bùi Ngọc Ảnh - Phó Chủ tịch UBND thành phố - Chủ tịch Hội đồng Phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật thành phố tham dự và phát biểu chỉ đạo hội nghị.
          Tại hội nghị, các đại biểu tham dự được nghe đồng chí Thái Nguyên Đại - Trưởng phòng Phổ biến giáo dục pháp luật - Sở Tư pháp và đồng chí Lê Văn Hương - Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Nam giới thiệu những điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Dịp này, báo cáo viên cũng đã lồng ghép triển khai những điểm mới nổi bật của các bộ luật tố tụng tương ứng.
Sau hội nghị ở thành phố, các địa phương sẽ tiếp tục xây dựng kế hoạch, tổ chức tuyên truyền nội dung của những văn bản luật nói trên đên cấp xã và 109 thôn, khối phố trên địa bàn thành phố./.
Thúy Sương 
2. Tam Kỳ tập huấn nghiệp vụ xử lý vi phạm hành chính
Ngày 05/5/2016, UBND thành phố Tam Kỳ tổ chức Hội nghị tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác xử lý vi phạm hành chính trên lĩnh vực đất đai, lĩnh vực trật tự xây dựng đô thị và quản lý hạ tầng.
Thực hiện Kế hoạch số 28/KH-UBND ngày 01/02/2016 của UBND thành phố Tam Kỳ về triển khai công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2016, ngày 05/5/2016, UBND thành phố Tam Kỳ tổ chức Hội nghị tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác xử lý vi phạm hành chính trên lĩnh vực đất đai, lĩnh vực trật tự xây dựng đô thị và quản lý hạ tầng.
Tham dự Hội nghị có hơn 120 đại biểu là cán bộ trực tiếp tham mưu công tác xử lý vi phạm hành chính của các phòng, ban thành phố; lãnh đạo UBND các xã, phường; công chức Tư pháp - Hộ tịch, Văn phòng - Thống kê, Địa chính - Xây dựng, cán bộ Quản lý hiện trạng và Tổ trật tự đô thị của 13 xã, phường. Tham dự Hội nghị có đồng chí Bùi Ly Dung - Trưởng phòng Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật - Sở Tư pháp. Đồng chí Nguyễn Minh Nam - Phó Chủ tịch UBND thành phố chủ trì hội nghị.
Tại Hội nghị, các đại biểu được nghe đồng chí Đoàn Văn Tri - Báo cáo viên pháp luật tỉnh Quảng Nam báo cáo Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành, đại diện phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố triển khai Quy trình xử lý xử lý vi phạm hành chính trên lĩnh vực đất đai, đại diện Đội quy tắc đô thị thành phố triển khai Quy trình xử lý xử lý vi phạm hành chính trên lĩnh vực xây dựng, quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật. Đặc biệt, Hội nghị cũng đã giành nhiều thời gian cho việc trao đổi, giải đáp một số tình huống vướng mắc xảy ra trong thực tiễn trên các lĩnh vực. Dịp này,  Ban Tổ chức cũng đã  tiến hành khảo sát về kiến thức pháp luật xử lý vi phạm hành chính đối với các cán bộ trực tiếp tham mưu công tác xử lý vi phạm hành chính của các phòng, ban thành phố và các địa phương.
Hội nghị là dịp để các đại biểu trao đổi, giải đáp các vướng mắc trong quá trình thực tiễn công tác, nhằm nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ trong công tác xử lý và tham mưu xử lý VPHC của cán bộ, công chức, viên chức thành phố và xã phường, giúp các cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ theo đúng quy định của pháp luật./.
Băng Nhi
3. Công bố kết quả thi pháp luật trực tuyến
Đợt 2 (01/4/2016-30/6/2016)
STT Người/ đơn vị nhận Giải
01 Tập thể trường Tiểu học Nguyễn Hiền Giải tập thể
02 Nguyễn Thị Lan Hương - Giáo viên Trường Tiểu học Lê Thị Hồng Gấm Giải nhất
03 Nguyễn Thị Lan Hương - Giáo viên Trường Tiểu học Lê Thị Hồng Gấm Giải nhất
04 Lê Thị Thu Hà - Giáo viên trường THCS Nguyễn Du Giải nhì
05 Phạm Nguyễn Hồng Châu - Bí Thư Đoàn phường Tân Thạnh  Giải nhì
06 Nguyễn Hoàng Du - Học sinh trường THCS Lý Thường Kiệt Giải ba
07 Trần Thị Phương - Nhân viên y tế trường Tiểu học Nguyễn Hiền Giải ba
08 Lê Viết Quang - Cán bộ UBND xã Tam Ngọc Giải khuyến khích
09 Nguyễn Hữu Thiện - Giáo viên trường THCS Lý Tự Trọng Giải khuyến khích
10 Nguyễn Thanh Yên - Cán bộ UBND xã Tam Ngọc Giải khuyến khích
11 Nguyễn Hữu Thiện - Giáo viên trường THCS Lý Tự Trọng Giải khuyến khích
12 Trần Quỳnh Mai - Đoàn viên Đoàn phường Tân Thạnh Giải khuyến khích
13 Nguyễn Hữu Quỳnh Trang - Học sinh trường tiểu học Kim Đồng Giải khuyến khích
 
 
 
 

PHẦN IV
CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT
***
Xét xử vụ việc khi không có điều luật áp dụng
Hôm nay, anh Bình lại ngồi làm việc với đống hồ sơ chất cao trên bàn. Kể từ khi trở thành thẩm phán tòa dân sự, ngày nào anh Bình cũng phải xử lý hàng loạt hồ sơ vụ kiện tụng, tranh chấp khác nhau, lần nào anh cũng có thể giải quyết ổn thỏa, hợp tình, hợp lý được các bên đồng thuận, tự nguyện chấp hành. Nhưng hôm nay, lần đầu tiên anh gặp phải một vụ án làm anh phải đau đầu suy nghĩ như vậy. Đúng lúc đang phân vân suy nghĩ thì có tiếng gọi:
- Sao mặt mày đăm chiêu thế, gặp việc gì khó à, có cần anh chỉ cho mấy chiêu không?
Nhìn theo tiếng gọi thì ra là anh Dương, chánh án tòa dân sự. Bình vội nói:
- A, anh Dương. Em cũng đang có chuyện muốn thỉnh giáo anh đây.
- Rồi muốn hỏi gì thì cũng phải có chén trà cho ngọt giọng đã chứ.
- Đây em vừa mua một gói chè mới, mời anh dùng thử xem chất lượng có hơn chè bọn mình hay uống không nhé?
Sau khi pha trà và mời anh Dương, Bình liền nói:
- Em muốn hỏi anh trường hợp này anh xem mình có thụ lý không. Vụ tranh chấp này em tìm khắp các văn bản luật không thấy có quy định nào điều chỉnh cả. Theo em biết thì từ xưa tới nay khi vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng thì tòa án mình sẽ không thụ lý đúng không anh? Nhưng mà vụ này nếu không thụ lý thì em lại thấy tội cho nguyên đơn quá nên em cứ suy nghĩ mãi.
- Ừ chú nói đúng một phần thôi. Đúng là hồi trước khi vụ việc mà không có điều luật điều chỉnh thì tòa án sẽ từ chối thụ lý. Nhưng theo quy định mới trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì trường hợp này vẫn được thụ lý.
- Quy định ở Điều nào vậy anh?
- Cái này quy định tại khoản 2 Điều 4 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Theo đó, tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng. Vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng ở đây được hiểu là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng. Và việc giải quyết vụ việc dân sự này được thực hiện theo các nguyên tắc do Bộ luật dân sự và Bộ luật tố tụng dân sự quy định.
- Thế luật quy định giải quyết những vụ này thế nào anh?
- Việc giải quyết các vụ này được Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định tại mục 3 Chương 3 gồm 03 điều quy định về nguyên tắc xác định thẩm quyền của Tòa án; trình tự, thủ tục thụ lý, giải quyết; và nguyên tắc giải quyết đối với những vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng.
- Anh nói cụ thể hơn đi.
- Thế này nhé về nguyên tắc xác định thẩm quyền của tòa án thì cũng áp dụng theo các quy định về thẩm quyền của tòa án các cấp như đối với các vụ việc thông thường được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Về trình tự, thủ tục thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng cũng được thực hiện theo quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Thế còn nguyên tắc giải quyết thì sao anh. Bình liền ngắt lời. Đấy là cái em muốn biết nhất đấy.
- Ừ rồi, chú cứ bình tĩnh, anh sẽ nói cho chú ngay đây. Nguyên tắc giải quyết các vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng được dựa trên việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật và các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng.
- Mấy cái này áp dụng thế nào?
- Việc áp dụng tập quán được thực hiện như sau: Tòa án áp dụng tập quán để giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định. Tập quán không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật dân sự năm 2015. Các nguyên tắc này bao gồm:
   + Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.
   + Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.
   + Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.
   + Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
   + Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.
Khi yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự này, các đương sự có quyền viện dẫn tập quán để yêu cầu Tòa án xem xét áp dụng. Và tòa án có trách nhiệm xác định giá trị áp dụng của tập quán bảo đảm đúng quy định tại Điều 5 của Bộ luật dân sự. Tập quán áp dụng phải là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự. Trường hợp các đương sự viện dẫn các tập quán khác nhau thì tập quán có giá trị áp dụng là tập quán được thừa nhận tại nơi phát sinh vụ việc dân sự.
- Thế còn về áp dụng tương tư pháp luật khi nào anh?
- Áp dụng tương tự pháp luật được tòa án thực hiện để giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng theo quy định pháp luật mà anh đã nói ở trên. Khi áp dụng tương tự pháp luật, Tòa án phải xác định rõ tính chất pháp lý của vụ việc dân sự, xác định rõ ràng trong hệ thống pháp luật hiện hành không có quy phạm pháp luật nào điều chỉnh quan hệ đó và xác định quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự.
- Em hiểu rồi thế còn áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng thì sao. Cái này em mới nghe lần đầu.
- Tòa án áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ việc dân sự khi không thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luật. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì anh đã nói rồi đấy. Còn án lệ sẽ được Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong giải quyết vụ việc dân sự khi đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố. Đối với lẽ công bằng thì được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó. Đấy giờ thì chú đã biết cách giải quyết vụ này chưa. Không còn gì phải đắn đo nữa nhé
- Em cảm ơn anh. Em không ngờ Bộ luật tố tụng dân sự mới lại có sự thay đổi này làm em cứ phải lăn tăn vụ này mãi.
- Anh đánh giá đây là một thay đổi rất có giá trị của Bộ luật tố tụng dân sự đấy nhé. Quy định này rất mang tính nhân văn, bảo đảm được các quyền dân sự của công dân, vừa phù hợp với các chuẩn mực pháp luật tiến bộ của thế giới. Nó sẽ góp phẩn thực hiện được mục đích đạt được lẽ công bằng của người dân khi đến tòa án. Nhưng thế này thì chú còn phải bận dài dài đấy.
- Anh cứ yên tâm, cái này em lo được.
Nguồn: moj.gov.vn
 
 

 

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Tin mới

















 

Thăm dò ý kiến

Đánh giá thái độ phục vụ của công chức Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ

Thoải mái, dễ chịu, vui vẻ

Hướng dẫn tận tình, chu đáo

Hướng dẫn thờ ơ, qua loa

Ý kiến khác

Phóng sự giao trả hồ sơ tận nhà trên lĩnh vực Hộ tịch