Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng nhì

UBND xã  Tam Ngọc dẫn đầu phong trào thi đua năm 2017

UBND phường Hòa Thuận dẫn đầu phong trào thi đua Quý 2 năm 2018





















 

:::Thống kê:::

  • Đang truy cập: 34
  • Khách viếng thăm: 33
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 1670
  • Tháng hiện tại: 199024
  • Tổng lượt truy cập: 10467069

Tập san tuyên truyên pháp luật số 02/2018

Đăng lúc: Chủ nhật - 08/07/2018 21:08 - Người đăng bài viết: Tuphaptamky
LỜI NÓI ĐẦU Thời gian qua, công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trên địa bàn thành phố đã được triển khai thường xuyên, đồng bộ từ thành phố đến xã phường, thôn khối phố bằng nhiều hình thức khác nhau, qua đó đã kịp thời thông tin, tuyên truyền các chính sách pháp luật tới cán bộ và nhân dân. Nhằm tiếp tục đa dạng hóa công tác phổ biến giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này đối với cán bộ và nhân dân, UBND thành phố đã chỉ đạo Phòng Tư pháp – cơ quan thường trực của Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật thành phố biên soạn tài liệu tuyên truyền để phục vụ cho công tác phổ biến giáo dục pháp luật..
Tập san tuyên truyên pháp luật số 02/2018

Tập san tuyên truyên pháp luật số 02/2018


Việc biên soạn tài liệu này, chúng tôi tham khảo nhiều tập san khác nhau ở trong và ngoài tỉnh. Tuy nhiên để phù hợp với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, đoàn viên, hội viên các đoàn thể và nhân dân trên địa bàn thành phố, chúng tôi rất mong  nhận được sự góp ý để tài liệu này thực sự cần thiết và hữu ích cho các phòng ban, ngành đoàn thể và địa phương.
Mọi góp ý xin gửi về địa chỉ:
Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ
70 Hùng Vương, Tam Kỳ, Quảng Nam
Điện thoại: 0235.3 851.772
Website: Http://tuphaptamky.gov.vn
 Email: tuphaptamky@yahoo.com.vn
Facebook: tuphaptamky
Fanpage: https://www.facebook.com/tuphaptamky.gov.vn/

TẢI BẢN TIN TẠI ĐÂY
 
PHẦN I
VĂN BẢN CHÍNH SÁCH MỚI
(Tổng hợp các văn bản được ban hành từ 01/4/2018-30/6/2018)
------
I. VĂN BẢN CỦA TRUNG ƯƠNG
1. Quy định mới về Hành vi bị cấm trong hoạt động bán hàng đa cấp
Những hành vi bị cấm trong hoạt động bán hàng đa cấp được Chính phủ quy định tại Nghị định số 40/2018/NĐ-CP ngày 12/3/2018 Về quản lý hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp, có hiệu lực 02/5/2018.
            Theo đó cấm doanh nghiệp bán hàng đa cấp thực hiện các hành vi sau đây:
- Yêu cầu người khác phải đặt cọc hoặc một khoản tiền nhất định để được ký kết hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp.
- Yêu cầu người khác phải mua một số lượng hàng hóa nhất định để được ký hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp.
- Cho người tham gia bán hàng đa cấp nhận tiền, hoặc lợi ích kinh tế khác từ việc giới thiệu người khác tham gia vào hoạt động bán hàng đa cấp mà không phải từ việc mua, bán hàng hóa của người được giới thiệu đó …
2. Ép người khác mua bảo hiểm nhân thọ bị phạt đến 100 triệu đồng
Ngày 21/3/2018, Chính phủ ban hành  Nghị định 48/2018/NĐ-CP  sửa đổi Nghị định 98/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ số.
Theo đó, phạt tiền từ 40 triệu đồng đến 50 triệu đồng đối với hành vi ép buộc các tổ chức, cá nhân mua bảo hiểm nhân thọ, sức khỏe dưới mọi hình thức.
3. Miễn nhiều phí, lệ phí đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ngày 11/3/2018, Chính phủ ban hành Nghị định 39/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017.
Theo đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa được miễn nhiều loại phí, lệ phí, đơn cử như sau:
*  Doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh
- Miễn lệ phí đăng ký doanh nghiệp và công bố thông tin doanh nghiệp lần đầu;
- Miễn lệ phí môn bài trong 03 năm;
- Miễn phí tư vấn thuế, kế toán trong 03 năm…
*  Doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo
- Miễn phí giá trị hợp đồng tư vấn về: Chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp…
- Miễn chi phí gian hàng tại Hội chợ xúc tiến thương mại trong nước và quốc tế;
- Miễn chi phí sử dụng trang thiết bị tại các cơ sở hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa…
4. Lãi suất cho vay ưu đãi nhà ở xã hội
 Ngày 03/4/2018, Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định 370/QĐ-TTg về lãi suất cho vay ưu đãi nhà ở xã hội tại Ngân hàng Chính sách xã hội theo quy định tại Nghị định 100/2015/NĐ-CP (có hiệu lực 03/4/2018) .
Theo đó, lãi suất cho vay ưu đãi nhà ở xã hội tại Ngân hàng Chính sách xã hội trong năm 2018 là 4,8%/năm (0,4%/tháng).
5. Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp
            Doanh nghiệp (DN) có dự án nông nghiệp (đặc biệt ưu đãi đầu tư, ưu đãi đầu tư và khuyến khích đầu tư) được Nhà nước giao đất hoặc được chuyển mục đích đất để làm nhà ở cho người lao động theo quy định tại Điều 55 Luật đất đai được miễn tiền chuyển mục đích sử dụng đất đối với diện tích đất được chuyển mục đích để xây dựng nhà ở cho người lao động làm việc tại dự án; được miễn tiền sử dụng đất đối với diện tích đất đó sau khi được chuyển đổi.
            Đây là một trong những chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn tại Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn (có hiệu lực 17/4/2018)
            Ngoài miễn, giảm tiền sử dụng đất, DN có dự án nông nghiệp ưu đãi đầu tư và khuyến khích đầu tư khi thuê đất, thuê mặt nước của Nhà nước thì được áp dụng mức giá đất ưu đãi do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định và giá thuê đất, thuê mặt nước ổn định tối thiểu 05 năm…
6. Quy định mới về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC
            Ngày 23/4/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 61/2018/NĐ-CP Về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính, có hiệu lực thi hành từ ngày 21/6/2018, theo đó:
        Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thành lập Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả  thuộc Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện.         Văn phòng HĐND- UBND cấp huyện đảm bảo và  quản lý trụ sở, trang thiết bị, máy móc, phần mềm ứng dụng, hệ thống mạng.
        Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả một cửa của cấp huyện do một lãnh đạo Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện đứng đầu. Các cơ quan chuyên môn của UBND cấp huyện cử công chức đến làm việc
        Ngoài ra, Nghị định 61/2018/NĐ-CP cũng quy định đối với các cơ quan Trung ương được tổ chức theo hệ thống ngành dọc tại địa phương có trách nhiệm bố trí cán bộ, công chức, viên chức đến làm việc tại Trung tâm phục vụ hành chính công cấp tỉnh, Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả cấp huyện để tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính đối với những thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền.
7. Hỗ trợ tới 90% phí bảo hiểm nông nghiệp cho hộ nghèo
            Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp, theo đó cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo được Nhà nước hỗ trợ tối đa 90% phí bảo hiểm nông nghiệp.
            Cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo được hỗ trợ tối đa 20% phí bảo hiểm nông nghiệp.
            Tổ chức sản xuất nông nghiệp theo mô hình sản xuất hợp tác, liên kết, tập trung, quy mô lớn có ứng dụng khoa học công nghệ và các quy trình sản xuất tiên tiến vào sản xuất, hướng tới nền nông nghiệp sạch, công nghệ cao, thân thiện với môi trường được hỗ trợ tối đa 20% phí bảo hiểm nông nghiệp.

8. Xây dựng hương ước, quy ước phải có sự tán thành của 50% cử tri

            Ngày 09/5/2018, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 22/2018/QĐ-TTg về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước, có hiệu lực 01/7/2018. Theo đó, thủ tục soạn thảo hương ước, quy ước như sau:
            - Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố chủ trì, phối hợp với Trưởng ban công tác Mặt trận tổ chức Hội nghị của thôn, tổ dân phố lấy ý kiến về chủ trương xây dựng hương ước, quy ước, những nội dung cơ bản dự kiến quy định trong hương ước, quy ước;
            - Trường hợp có trên 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố tán thành chủ trương xây dựng hương ước, uy ước, Trưởng thôn,  Tổ trưởng tổ dân phố chủ trì, phối hợp với Trưởng ban công tác Mặt trận lựa chọn, cử người tham gia Tổ soạn thảo hương ước, quy ước;
            Thêm vào đó, hương ước, quy ước được sửa đổi, bổ sung, thay thế khi: Có nội dung trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, trái phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình; Cộng đồng dân cư thấy cần thiết phải sửa đổi, bổ sung, thay thế…
9. Tiêu chí xã nông thôn mới kiểu mẫu giai đoạn 2018-2020
Tiêu chí xã nông thôn mới kiểu mẫu giai đoạn 2018-2020 được Thủ tướng Chính phủ ban hành vào ngày 05/6/2018 tại Quyết định 691/QĐ-TTg.
            Xã được công nhận nông thôn mới kiểu mẫu là xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao theo quy định và đáp ứng các tiêu chí sau đây:   
            - Tiêu chí tổ chức sản xuất, thu nhập, hộ nghèo: Thu nhập bình quân đầu người của xã tại thời điểm xét , công nhận xã nông thôn mới kiểu mẫu phải cao hơn từ 1,5 lần trở lên so với thu nhập bình quân đầu người tại thời điểm được công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới…
            - Tiêu chí giáo dục, y tế, văn hóa: Tỷ lệ huy động trẻ em mẫu giáo đi học đạt từ 90% trở lên; tỷ lệ trẻ em 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100%, Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt từ 95% trở lên, Mỗi thôn, bản, ấp có ít nhất 01 đội  hoặc câu lạc bộ văn hóa - văn nghệ hoạt động thường xuyên, hiệu quả…
            - Tiêu chí về môi trường:  Tỷ lệ chất thải rắn được thu gom  và xử lý theo đúng quy định đạt tỷ lệ từ 90% trở lên; tỷ lệ rác thải sinh hoạt được phân loại, áp dụng biện pháp xử lý phù hợp đạt từ 50% trở lên…           

            - Tiêu chí an ninh trật từ và hành chính công: Trong 3 năm liên tục trước năm xét , công nhận xã nông thôn mới kiểu mẫu , trên địa bàn xã: Không có khiếu kiện đông người trái pháp luật; không có công dân thường trú ở xã phạm tội; tệ nạn xã hội được kiềm chế, giảm… Công khai minh bạch, đầy đủ các thủ tục hành chính

10. Chính thức tăng lương cơ sở từ ngày 1-7
            Ngày 15/5/2018, Chính phủ ban hành Nghị định 72/2018/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7.
        Theo nghị định, từ ngày 1-7-2018, mức lương cơ sở là 1,39 triệu đồng/tháng, thay cho mức cũ là 1,3 triệu đồng/tháng.
            Nghị định này quy định mức lương cơ sở áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương, phụ cấp và người lao động làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội và hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động ở trung ương; ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (cấp huyện); ở xã, phường, thị trấn (cấp xã); ở đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt và lực lượng vũ trang.
11. Mức bồi thường của người thi hành công vụ khi gây thiệt hại
Ngày 15/5/2018, Chính phủ ban hành Nghị định 68/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, có hiệu lực 01/7/2018.
Theo đó, nếu người thi hành công vụ có lỗi cố ý gây thiệt hại nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải hoàn trả với mức như sau:
- Nếu số tiền nhà nước đã bồi thường cao hơn 100 tháng lương của người thi hành công vụ thì mức hoàn trả là 50 tháng lương của người đó;
- Nếu số tiền nhà nước đã bồi thường từ trên 80 đến 100 tháng lương của người thi hành công vụ thì mức hoàn trả từ 40 đến dưới 50 tháng lương nhưng tối đa 50% số tiền mà Nhà nước bồi thường;
- Nếu số tiền nhà nước đã bồi thường từ 60 đến 80 tháng lương của người thi hành công vụ thì mức hoàn trả từ 30 đến dưới 40 tháng lương nhưng tối đa 50% số tiền mà Nhà nước đã bồi thường;
- Nếu số tiền nhà nước đã bồi thường thấp hơn 60 tháng lương của người thi hành công vụ thì mức hoàn trả bằng 50% số tiền Nhà nước đã bồi thường.
12. Từ 1/7 lương hưu, trợ cấp tăng 6,92%
            Ngày 15/6/2018, Chính phủ ban hành Nghị định 88/2018/NĐ-CP điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng.
            Theo đó, từ thời điểm 1/7/2018, tăng thêm 6,92% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng của tháng 6/2018 đối với các đối tượng sau:
            - Cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động; quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu;
            - Cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng lương hưu và trợ cấp hàng tháng;
            - Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng
            - Cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng trợ cấp hàng theo Quyết định 130/CP năm 1975 và Quyết định 111-HĐBT năm 1981.
            - Quân nhân, Công an đang hưởng trợ cấp hàng tháng
            - Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng.
II. VĂN BẢN ĐỊA PHƯƠNG
1. Tỉnh Quảng Nam quy định hỗ trợ kinh phí phòng, chống dịch bệnh động vật

            Ngày 06/4/2018, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định 1210/QĐ-UBND  Quy định ngân sách Nhà nước hỗ trợ kinh phí phòng, chống dịch bệnh động vật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, theo đó:

1.Đối tượng được hỗ trợ gồm:

        Hộ nông dân, người nuôi trồng thủy sản, chủ gia trại, tổ hợp tác, hợp tác xã lĩnh vực chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh bị thiệt hại trực tiếp do dịch bệnh.

            2. Điều kiện ngân sách nhà nước hỗ trợ

            2.1. Đối với động vật trên cạn

        Chủ vật nuôi đã thực hiện phòng bệnh bắt buộc cho gia súc, gia cầm bằng vắc xin theo quy định (phải có hồ sơ chứng nhận tiêm phòng) hoặc gia súc, gia cầm mà chủ vật nuôi mà chủ vật nuôi có ký hợp đồng thực hiện dịch vụ thú y trọn gói. Đối với gia súc, gia cầm từ tỉnh khác vào địa phương để chăn nuôi phải có giấy chứng nhận kiểm dịch động vật vận chuyển còn trong thời gian nuôi cách ly (không quá 21 ngày), nếu quá 21 ngày phải có giấy chứng nhận tiêm phòng chứng nhận gia súc, gia cầm đã được phòng bệnh bằng vắc xin và còn miễn dịch bảo hộ. Đối với gia súc, gia cầm nhập từ huyện khác trên địa bàn tỉnh thì cong giống phải khỏe mạnh, có giấy chứng nhận tiêm phòng chứng nhận gia súc, gia cầm đã được phòng bệnh bằng vắc xin và còn miễn dịch bảo hộ, phải có biên bản kiểm tra, giám sát nhập con giống của cơ quan nhà nước có thẩm quyền vào địa bàn huyện.

            2.2. Đối với động vật thủy sản

        Cơ sở nuôi phải nằm trong quy hoạch của tỉnh hoặc địa phương. Chủ cơ sở nuôi chấp hành nghiêm túc các quy định lịch thời vụ, hướng dẫn của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn; chủ cơ sở nuôi phải có hồ sơ kê khai ban đầu. Con giống phải có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo khỏe mạnh; khi nhập từ tỉnh khác vào địa phương để nuôi phải có giấy chứng nhận kiểm dịch động vật vận chuyển.

            3. Nguyên tắc ngân sách nhà nước hỗ trợ

Ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí phòng, chống dịch bệnh trong khoảng thời gian kể từ khi công bố dịch đến khi công bố hết dịch của cấp có thẩm quyền; hoặc ngay từ khi có động vật mắc bệnh cần phải áp dụng đồng bộ các biện pháp phòng, chống dịch bệnh để hạn chế lây lan (chưa đủ kiều kiện công bố dịch) đến khi kết thúc ổ dịch; hoặc từ khi có văn bản chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh nguy cơ cao xảy ra dịch của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đến khi có thông báo tình hình dịch bệnh ổn định.
2. Quy định đấu giá quyền sử dụng đất của tỉnh Quảng Nam
            Ngày 21/5/2018, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định  04/2018/QĐ-UBND Ban hành Quy định việc tổ chức thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn tỉnh (Có hiệu lực 01/6/2018), theo đó:
            Đối tượng được tham gia đấu giá quyền sử dụng đất gồm:  Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân (gọi chung là khách hàng hoặc người)  thuộc đối tượng được Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo quy định tại Điều 55, Điều 56 Luật Đất đai có nhu cầu sử dụng đất thực hiện dự án đầu tư hoặc làm nhà ở theo quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
            Đối tượng tham gia đấu giá quyền sử dụng đất để thực hiện dự án  đầu tư phải đảm bảo các điều kiện sau:
            - Có năng lực tài chính để đảm bảo  việc sử dụng đất theo tiến độ  của dự án đầu tư, cụ thể:
            + Có vốn pháp định không được thấp hơn 20 tỷ đồng;
            + Có vốn thuộc sở hữu của mình để thực hiện dự án không thấp hơn 20%  tổng mức đầu tư đối với dự án có quy mô sử dụng đất dưới 20ha; không thấp hơn 15%  tổng mức đầu tư đối với dự án có quy mô sử dụng đất từi 20ha trở lên;
            + Có khả năng huy động vốn để thực hiện dự án được thể hiện bằng văn bản cam kết của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các tổ chức, cá nhân khác.
  • Ký quỹ theo quy định của pháp luật về đầu tư.
            - Không vi phạm quy định của pháp luật về đất đai đối với trường hợp đang sử dụng đất  do Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư khác.    
3.UBND tỉnh sửa đổi, bổ sung một số quy định về bổ nhiệm chức danh cán bộ
            Ngày 06/6/2018, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm chức danh Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng và tương đương thuộc sở, ban, ngành, UBND huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Quảng Nam, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/6/2018. Theo đó:
            * Sửa đổi, bổ sung tiêu chuẩn, điều kiện cụ thể đối với chức danh Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng và tương đương (quy định tại các điểm a, c, d khoản 1 Điều 8 và các điểm a, c, d khoản 1 Điều 9 Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 08/2013/QĐ-UBND):
            a. Tốt nghiệp đại học chuyên môn và trung cấp lý luận chính trị trở lên.
            Đối với công chức sinh sau năm 1975 trở đi khi bổ nhiệm lần đầu phải tốt nghiệp đại học chuyên môn hệ chính quy và trung cấp lý luận chính trị trở lên. Trường hợp tốt nghiệp đại học chuyên môn hệ không chính quy nhưng có trình độ sau đại học và có năng lực thực tiễn, có uy tín, có triển vọng phát triển tốt thì do Ban Thường vụ Tỉnh ủy xem xét, quyết định và thực hiện theo quy định phân cấp quản lý cán bộ có liên quan.
            c. Có chứng chỉ tin học với trình độ đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản theo quy định tại Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT ngày 11/3/2014 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định Chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin hoặc chứng chỉ tin học ứng dụng tương đương.
            d. Có chứng chỉ ngoại ngữ với trình độ tương đương bậc 2 khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam theo quy định tại Thông tư số 01/2014/TT-BGDĐT ngày 24/01/2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam.
            *. Bãi bỏ nội dung: “Trường hợp công chức do yêu cầu công việc chưa được cơ quan, đơn vị bố trí đi học cao cấp lý luận chính trị, trung cấp lý luận chính trị nhưng do yêu cầu nhiệm vụ công tác và thực sự cần thiết thì thủ trưởng các sở, ban, ngành và Chủ tịch UBND cấp huyện có thể xem xét, bổ nhiệm công chức, giữ chức vụ Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng và tương đương thuộc Sở, UBND cấp huyện; sau đó bố trí cho công chức đó đi học để bảo đảm tiêu chuẩn theo quy định. Điều này chỉ áp dụng đến ngày 31/12/2015” (quy định tại Điều 10 Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 08/2013/QĐ-UBND).

 
PHẦN II
ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN
GIỚI THIỆU MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
CỦA NHÀ NƯỚC NĂM 2017
Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 (thay thế cho Luật TNBTCNN năm 2009); Chủ tịch nước ký Lệnh công bố ngày 03/7/2017; Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018. Dưới đây là một số nội dung cơ bản của Luật
A. Quyền yêu cầu bồi thường (Điều 5)
Những người sau đây có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường:
1. Người bị thiệt hại;
2. Người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết; tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại;
3. Người đại diện theo pháp luật của người bị thiệt hại thuộc trường hợp phải có người đại diện theo pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự;
4. Cá nhân, pháp nhân được những người quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này ủy quyền thực hiện quyền yêu cầu bồi thường.
 B. Thời hiệu yêu cầu bồi thường (Điều 6)
1. Thời hiệu yêu cầu bồi thường là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu bồi thường quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 5 của Luật này nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 52 của Luật này và trường hợp yêu cầu phục hồi danh dự.
2. Thời hiệu yêu cầu bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hành chính được xác định theo thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính.
3. Thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường:
a) Khoảng thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự làm cho người có quyền yêu cầu bồi thường quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 5 của Luật này không thể thực hiện được quyền yêu cầu bồi thường;
b) Khoảng thời gian mà người bị thiệt hại là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi chưa có người đại diện theo quy định của pháp luật hoặc người đại diện đã chết hoặc không thể tiếp tục là người đại diện cho tới khi có người đại diện mới.
4. Người yêu cầu bồi thường có nghĩa vụ chứng minh khoảng thời gian không tính vào thời hiệu quy định tại khoản 3 Điều này.
C. Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Điều 7)
1. Nhà nước có trách nhiệm bồi thường khi có đủ các căn cứ sau đây:
a) Có một trong các căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và yêu cầu bồi thường tương ứng quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Có thiệt hại thực tế của người bị thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định của Luật này;
c) Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại.
2. Căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và yêu cầu bồi thường tương ứng bao gồm:
a) Có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật này và có yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hoặc Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự giải quyết yêu cầu bồi thường;
b) Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính đã xác định có hành vi trái pháp luật của người bị kiện là người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và có yêu cầu bồi thường trước hoặc tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại;
c) Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự đã xác định có hành vi trái pháp luật của bị cáo là người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự và có yêu cầu bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
 D. Quyền và nghĩa vụ của người yêu cầu bồi thường (Điều 13)
1. Người yêu cầu bồi thường là người bị thiệt hại có quyền sau đây:
a) Yêu cầu một trong các cơ quan quy định tại khoản 7 Điều 3 của Luật này giải quyết yêu cầu bồi thường và được thông báo kết quả giải quyết yêu cầu bồi thường;
b) Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện quyết định, hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền trong việc giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và pháp luật về tố tụng hành chính; khiếu nại, kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật về tố tụng;
c) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình theo quy định của pháp luật;
d) Nhờ người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình;
đ) Được cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hướng dẫn thủ tục yêu cầu bồi thường;
e) Ủy quyền theo quy định của Bộ luật Dân sự cho cá nhân, pháp nhân khác thực hiện quyền yêu cầu bồi thường;
g) Quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Người yêu cầu bồi thường là người bị thiệt hại có nghĩa vụ sau đây:
a) Cung cấp kịp thời, chính xác, trung thực tài liệu, chứng cứ có liên quan đến yêu cầu bồi thường và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ của mình;
b) Tham gia đầy đủ vào quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường theo yêu cầu của cơ quan giải quyết bồi thường;
c) Chứng minh những thiệt hại thực tế của mình được bồi thường theo quy định tại Luật này và mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại;
d) Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
3. Người yêu cầu bồi thường là người đại diện theo pháp luật, người thừa kế của người bị thiệt hại hoặc tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại có quyền, nghĩa vụ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
4. Người yêu cầu bồi thường là người đại diện theo ủy quyền có quyền, nghĩa vụ quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1 và khoản 2 Điều này trong phạm vi ủy quyền.
Đ. Trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường (Điều 15)
1. Tiếp nhận, thụ lý yêu cầu bồi thường.
2. Phục hồi danh dự hoặc yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại phục hồi danh dự cho người bị thiệt hại theo quy định của Luật này.
3. Giải thích cho người yêu cầu bồi thường về các quyền và nghĩa vụ của họ trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường.
4. Xác minh thiệt hại; tiến hành thương lượng, đối thoại, hòa giải trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
5. Chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ yêu cầu bồi thường, tính đúng đắn của các văn bản, tài liệu giải quyết yêu cầu bồi thường và quyết định giải quyết bồi thường.
6. Ra bản án, quyết định về giải quyết yêu cầu bồi thường, tổ chức thực hiện hoặc yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại thực hiện bản án, quyết định đó.
7. Gửi bản án, quyết định về giải quyết yêu cầu bồi thường cho cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước và cá nhân, tổ chức khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
8. Khôi phục hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác của người bị thiệt hại.
9. Hướng dẫn người yêu cầu bồi thường thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường.
10. Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
11. Tham gia tố tụng tại Tòa án trong trường hợp người yêu cầu bồi thường khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định tại khoản 1 Điều 52 hoặc Điều 55 của Luật này.
12. Xác định trách nhiệm hoàn trả hoặc yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại xác định trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại và thu tiền hoàn trả theo quy định của Luật này.
13. Xem xét, xử lý kỷ luật theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý kỷ luật người thi hành công vụ gây thiệt hại.
14. Báo cáo về việc giải quyết yêu cầu bồi thường, xác định trách nhiệm hoàn trả và việc xử lý kỷ luật người thi hành công vụ gây thiệt hại cho cơ quan có thẩm quyền, cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước.
15. Trường hợp Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính giải quyết yêu cầu bồi thường thì phải xác định hành vi của người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 7 của Luật này trước khi thực hiện các trách nhiệm quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10, 11, 12, 13 và 14 Điều này
E. Các hành vi bị nghiêm cấm trong việc giải quyết yêu cầu bồi thường (Điều 16)
1. Giả mạo tài liệu, giấy tờ hoặc cung cấp tài liệu, chứng cứ sai sự thật trong hồ sơ yêu cầu bồi thường và trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường.
2. Thông đồng giữa người yêu cầu bồi thường với người giải quyết bồi thường, người có liên quan để trục lợi.
3. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn can thiệp trái pháp luật vào quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường, xác định trách nhiệm hoàn trả và xem xét, xử lý kỷ luật người thi hành công vụ gây thiệt hại.
4. Không giải quyết yêu cầu bồi thường hoặc không ra quyết định giải quyết bồi thường hoặc giải quyết yêu cầu bồi thường trái pháp luật.
5. Không thực hiện việc xác định trách nhiệm hoàn trả hoặc không xem xét, xử lý kỷ luật người thi hành công vụ gây thiệt hại.
6. Sách nhiễu, cản trở hoạt động giải quyết yêu cầu bồi thường.
F. Các thiệt hại Nhà nước không bồi thường (Điều 32)
1. Nhà nước không bồi thường các thiệt hại sau đây:
a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại;
b) Thiệt hại xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù người thi hành công vụ đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và trong khả năng cho phép;
c) Thiệt hại xảy ra trong hoàn cảnh người thi hành công vụ muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa trực tiếp lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải có hành động gây ra một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 23 của Luật này.
2. Ngoài các thiệt hại quy định tại khoản 1 Điều này, trong hoạt động tố tụng hình sự, Nhà nước không bồi thường các thiệt hại sau đây:
a) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp người bị truy cứu trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự;
b) Thiệt hại xảy ra do người bị thiệt hại khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu, vật chứng sai sự thật để nhận tội thay cho người khác hoặc để che giấu tội phạm;
c) Thiệt hại xảy ra do người có hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu rõ ràng cấu thành tội phạm, bị khởi tố, truy tố trong vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại nhưng vụ án đã được đình chỉ do người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố;
d) Thiệt hại xảy ra do người bị khởi tố, truy tố, xét xử đúng với các văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm khởi tố, truy tố, xét xử nhưng tại thời điểm ra bản án, quyết định thì họ không phải chịu trách nhiệm hình sự theo các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành và có hiệu lực sau ngày khởi tố, truy tố, xét xử.
3. Ngoài các thiệt hại quy định tại khoản 1 Điều này, trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, Nhà nước không bồi thường thiệt hại xảy ra khi người thi hành công vụ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo đúng yêu cầu của người yêu cầu mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba. Người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
4. Ngoài các thiệt hại quy định tại khoản 1 Điều này, trong hoạt động thi hành án dân sự, Nhà nước không bồi thường thiệt hại xảy ra khi người thi hành công vụ áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo đúng yêu cầu của đương sự mà gây thiệt hại. Người yêu cầu chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
F. Hồ sơ yêu cầu bồi thường (Điều 41)
1. Trường hợp người bị thiệt hại trực tiếp yêu cầu bồi thường thì hồ sơ yêu cầu bồi thường (sau đây gọi là hồ sơ) bao gồm:
a) Văn bản yêu cầu bồi thường;
b) Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp người bị thiệt hại không được gửi hoặc không thể có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường;
c) Giấy tờ chứng minh nhân thân của người bị thiệt hại;
d) Tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường (nếu có).
2. Trường hợp người yêu cầu bồi thường là người thừa kế (nếu có nhiều người thừa kế thì những người thừa kế đó phải cử ra một người đại diện) hoặc là người đại diện của người bị thiệt hại thì ngoài các tài liệu quy định tại các điểm a, b và d khoản 1 Điều này, hồ sơ còn phải có các tài liệu sau đây:
a) Giấy tờ chứng minh nhân thân của người thừa kế, người đại diện của người bị thiệt hại;
b) Văn bản ủy quyền hợp pháp trong trường hợp đại diện theo ủy quyền;
c) Trường hợp người bị thiệt hại chết mà có di chúc thì người yêu cầu bồi thường phải cung cấp di chúc, trường hợp không có di chúc thì phải có văn bản hợp pháp về quyền thừa kế.
3. Văn bản yêu cầu bồi thường phải có nội dung chính sau đây:
a) Họ, tên, địa chỉ, số điện thoại liên lạc (nếu có) của người yêu cầu bồi thường;
b) Ngày, tháng, năm làm văn bản yêu cầu bồi thường;
c) Hành vi gây thiệt hại của người thi hành công vụ;
d) Mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế xảy ra và hành vi gây thiệt hại của người thi hành công vụ;
đ) Thiệt hại, cách tính và mức yêu cầu bồi thường;
e) Đề nghị tạm ứng kinh phí bồi thường (nếu có);
g) Đề nghị cơ quan giải quyết bồi thường thu thập văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường nhưng phải nêu rõ tên văn bản và địa chỉ thu thập văn bản đó trong trường hợp người yêu cầu bồi thường không có khả năng thu thập văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường;
h) Yêu cầu phục hồi danh dự (nếu có);
i) Yêu cầu khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác (nếu có).
Trường hợp người bị thiệt hại chỉ yêu cầu phục hồi danh dự thì văn bản yêu cầu bồi thường phải có nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d, g và h khoản này.
4. Người yêu cầu bồi thường nộp 01 bộ hồ sơ trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính tới cơ quan giải quyết bồi thường.
Trường hợp chưa xác định ngay được cơ quan giải quyết bồi thường, người yêu cầu bồi thường nộp hồ sơ đến Sở Tư pháp nơi người bị thiệt hại cư trú hoặc có trụ sở. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, Sở Tư pháp có trách nhiệm xác định cơ quan giải quyết bồi thường, chuyển hồ sơ đến cơ quan giải quyết bồi thường và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu bồi thường.
5. Trường hợp người yêu cầu bồi thường trực tiếp nộp hồ sơ thì các giấy tờ, tài liệu và chứng cứ quy định tại các điểm b, c, d khoản 1 và khoản 2 Điều này là bản sao nhưng phải có bản chính để đối chiếu; trường hợp người yêu cầu bồi thường gửi hồ sơ qua dịch vụ bưu chính thì các giấy tờ, tài liệu và chứng cứ quy định tại các điểm b, c, d khoản 1 và khoản 2 Điều này là bản sao có chứng thực theo quy định của pháp luật về chứng thực.

 
PHẦN III
TIN NỔI BẬT VỀ HOẠT ĐỘNG PHỔ BIẾN
PHÁP LUẬT TRONG QUÝ II/2018
1. Tam Kỳ tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ xử lý vi phạm hành chính lĩnh vực xây dựng, trật tự đô thị
Chiều ngày 25/5/2018, Phòng Tư pháp phối hợp với Đội Quy tắc đô thị thành phố tổ chức Hội nghị tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác xử lý vi phạm hành chính trên lĩnh vực xây dựng, trật tự đô thị cho hơn 70 đại biểu là cán bộ Đội quy tắc đô thị thành phố; công chức Địa chính - Xây dựng, cán bộ Quản lý hiện trạng và Tổ trật tự đô thị của 13 xã, phường.
Tại hội nghị, các đại biểu tham dự đã được báo cáo viên pháp luật thành phố giới thiệu các nội dung của Thông tư 03/2018/TT-BXD ngày 24/4/2018 của Bộ Xây dựng quy định chi tiết quy định chi tiết một số điều của nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2017 của chính phủ quy đinh xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở. Nhiều nội dung được hội nghị quan tâm như: Áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép xây dựng, áp dụng biện pháp bồi thường thiệt hại, biện pháp buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng, biện pháp dừng thi công xây dựng để làm thủ tục xin cấp giấy phép xây dựng hoặc điều chỉnh giấy phép xây dựng…
THÚY SƯƠNG
 
2 Tam Kỳ tư vấn pháp luật  và thủ tục hành chính
            Trong quý 2/2018, Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ đã phối hợp với một số phòng, ban, đơn vị, UBND xã, phường tổ chức tư vấn pháp luật và thủ tục hành chính cho nhân dân, cụ thể:
            - Ngày 27/4/2018, Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ phối hợp với Liên đoàn lao động thành phố và Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Nam tổ chức buổi tư vấn pháp luật cho hơn 100 công nhân tại công ty Cổ phần Dịch vụ công ích đô thị Tam Kỳ.
Tại buổi tư vấn, công nhân công ty Cổ phần Dịch vụ công ích đô thị Tam Kỳ đã được đại diện Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Nam, Phòng Tư pháp, Liên đoàn lao động, Bảo hiểm xã hội, Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố giải đáp các thắc mắc xoay quanh Bộ Luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội như: chế độ tiền lương, chế độ tăng ca, thời gian nghỉ ngơi, nghỉ lễ, bảo hiểm, điều kiện hưởng phụ cấp độc hại, nặng nhọc…
​            - Ngày 23, 30/6/2018, Phòng Tư pháp thành phố phối hợp với Thành đoàn, UBND xã Tam Phú, UBND phường Trường Xuân và các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức Ngày hội tư vấn pháp luật và thủ tục hành chính cho nhân dân xã Tam Phú, phường Trường Xuân trên tất cả các lĩnh vực, trong đó tập trung vào thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ tịch, hộ khẩu, cấp giấy chứng minh nhân dân, chứng thực hợp đồng giao dịch, cấp giấy phép xây dựng, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, chế độ chính sách đối với người có công, gia đình liệt sỹ...
Tại buổi tư vấn, hơn 200 hộ gia đình, cá nhân đã được đại diện Công an thành phố, Bảo hiểm xã hội thành phố, Phòng Quản lý đô thị, Phòng Tư pháp, Phòng Tài nguyên và môi trường, Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và Trung tâm hành chính công thành phố  trực tiếp tư vấn, hướng dẫn quy trình các bước khi thực hiện thủ tục hành chính. Các thủ tục hành chính được người dân yêu cầu tư vấn nhiều nhất là thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực đất đai và chế độ chính sách đối với người có công Dịp này, Phòng Tư pháp thành phố cũng đã cấp phát hơn 200 tập san phổ biến giáo dục pháp luật cho người dân đến dự và yêu cầu tư vấn thủ tục hành chính. Qua buổi tư vấn, đa số người dân hài lòng vì những vướng mắc được hỗ trợ, tư vấn, giải đáp cụ thể, cặn kẽ./.
BĂNG NHI

 
PHẦN IV
CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT
***
TỘI PHẠM LUÔN CÓ NHỮNG HÌNH PHẠT
THÍCH ĐÁNG
Phân vai:
 Chị Phượng
Anh Hà: chồng chị Phượng
Bà Tình: người hàng xóm
Nguyễn văn kiệt: Tên trộm
Anh Công an Huyện
Tại căn nhà lá đơn sơ, anh Hà ngủ ngoài thềm, chị Phượng thì ôm đứa con chưa thôi nôi ngủ trong nhà. Đang say giấc, chị giật mình thảng thốt khi nhận thấy một bóng đen kề con dao sắc bén vào cổ.
Tên trộm: (gầm gừ qua kẽ răng ) - nằm im.
Chị Hà: Qua ánh sáng của bóng đèn ngủ, chị chỉ nhận biết đó là một gã đàn ông đeo khăn trùm đầu kín mít. Bản năng người mẹ đã lấn át nỗi sợ hãi, chị vùng dậy giật phăng con dao trên tay bóng đen và hô lớn: Trộm, có trộm chồng ơi, ơi bà con ơi nhà tôi có trộm ...!
Kẻ đột nhập hoảng sợ bỏ chạy mất hút vào bóng đêm. trước khi tẩu thoát, tên trộm còn với tay chộp 1 chiếc túi xách nữ nơi bậu cửa nhưng không phải của chị.
Nghe tiếng tri hô của chị, cả xóm thức giấc truy đuổi nhưng không kịp. Mọi người tìm thấy 1 con dao, 1 cây kéo và 1 chiếc điện thoại bị bỏ lại. Thấy vậy bà Tình nói:
Bà Tình: để sáng mai cô chú phải báo công an để họ điều tra thôi, chứ nó liều lĩnh kè dao vào cổ như thế chắc nó phải lưu manh lắm, nhỡ đâu nó lại mò vào những nhà khác thì sao? (tất cả mọi người đều đồng tình với ý kiến của bà Tình, và hết sức động viên vợ chồng chị hãy mau chóng vượt qua nỗi sợ hãi, đồng thời phải báo công an).
Anh Hà: vợ chồng tôi cảm ơn tất cả mọi người đã quan tâm, tôi xin nghe theo ý kiến của mọi người vậy. Bây giờ mọi chuyện đã ổn, mọi người hãy về nhà ngủ tiếp đi ạ, sáng mai gặp lại (mọi người lục đục kéo nhau ra về).
Sáng hôm sau:
Chị Phương (nói với chồng): Mình có nên đi báo công an không mình?
Anh Hà: có chứ, phải báo chứ, anh nấu sáng cho hai mẹ con xong rồi sang rủ bác Tình đi cùng.
Chị Phượng: Vâng, vậy mình đi sớm về sớm nhé.
Tại nhà bà Tình:
Sáng ngủ dậy bà vừa đánh răng vừa nghe thời sự, trong đầu lẩm bẩm suy nghĩ: khiếp quá, thời buổi giờ trộm cắp kinh quá, lại còn sẵn sàng giết người để cướp của nữa chứ, thật nguy hiểm.
Đang mải mê suy nghĩ thì có tiếng gọi:
Anh Hà: chị Tình ơi, mở cổng cho em
Bà Tình: (xúc miệng và nhổ vội nước đánh toẹt vào nền giếng) chú chờ tôi tí
Bà Tình ra mở cổng
Anh Hà: em sang vì chuyện tối qua, phiền chị bỏ chút thời gian cùng em đi báo công an nhé
Bà Tình: Tưởng chuyện gì, chứ chuyện ấy thì tôi nhất chí thôi. Vào đây ngồi uống nước đi, chờ tôi thay quần áo
Anh Hà: Vâng ạ!
(khoảng 15 phút sau bà Tình quay ra)
Bà Tình: đi thôi chú
Anh Hà và bà tình mỗi người một chiếc xe đạp đạp thẳng lên công an xã. Tại đây anh Hà tường thuật lại toàn bộ vụ việc đêm qua cho các đồng chí công an nghe và giao toàn bộ tang vật thu nhặt được.
Các đồng chí công an tiếp nhận vụ việc nhưng nhận thấy tính chất nghiêm trọng của nó nên đã báo cáo lên công an huyện, ban lãnh đạo ngay lập tức triển khai phá án.
Bằng các biện pháp nghiệm vụ lực lượng công an đã bắt được hung thủ chỉ sau 2 ngày. Hắn là Nguyễn Văn Kiệt, 30 tuổi ở xóm A, Xã b, huyện c, tỉnh d.
Qua quá trình điều tra lấy lời khai cơ quan điều tra đã thu được nhiều thông tin quan trọng; hắn đã thực hiện 11 vụ đột nhập, cướp tài sản và hiếp dâm trong và ngoài huyện với cùng thủ đoạn.
Hắn bị khởi tố hình sự với các tội danh như trên.
Để cảm ơn tổ điều tra phá án, ngay ngày hôm sau anh Hà, bà Tình và một số người đại diện cho thôn xóm đã lên trụ sở công an huyện để cảm ơn.
Tại trụ sở công anh huyện bà Tình sốt sắng hỏi:
Bà Tình: thật vui vì các chú đã bắt được tên trộm nguy hiểm, bây giờ các chú phải phạt hắn thật nặng để còn dăn đe kẻ khác. Nhưng các chú này, với nhiều tội thế nó có bị đi tù không? Nó phải tống tù thì dân chúng tôi mới yên tâm được.
Anh công an: (cười lớn) bác cứ yên tâm, tội nào sẽ có hình phạt thích đáng của tội đó, chúng cháu sẽ làm theo đúng pháp luật để các bác yên tâm nhé!
Bà Tình: thế đúng pháp luật thì phải phạt nó như thế nào?
Anh Công an: vâng, cháu sẽ nói cho các bác hiểu, thế này nhé:
- Trước hết, chúng ta cần phải phân loại tội phạm, Điều 9 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:
a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;
b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;
c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;
d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
2. Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều này và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này.”.
- Về cố ý phạm tội, Điều 10 Bộ luật hình sự quy định
Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:
1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;
2. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Đối chiếu các quy định nêu trên, với anh Kiệt này là tội cố ý đây bác. Mặt khác về Tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì:
“1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm và Bộ luật này có quy định khác”.
Nghe tới đây bà Tình, anh Hà cùng những người đi cùng mới khai nhãn ra được nhiều điều, họ đồng thanh “Ồ” lên một tiếng như chút được gánh nặng. Họ vui vẻ một lần nữa cảm ơn các đồng chí công an hình sự huyện rồi tíu tít xin phép ra về.
Nguồn: Moj.gov.vn
 
 

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Tin mới















Thăm dò ý kiến

Đánh giá thái độ phục vụ của công chức Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ

Thoải mái, dễ chịu, vui vẻ

Hướng dẫn tận tình, chu đáo

Hướng dẫn thờ ơ, qua loa

Ý kiến khác

Phóng sự giao trả hồ sơ tận nhà trên lĩnh vực Hộ tịch