Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng nhì


UBND xã  Tam Thanh dẫn đầu phong trào thi đua  Quý 3 năm 2017























 

:::Thống kê:::

  • Đang truy cập: 54
  • Hôm nay: 10601
  • Tháng hiện tại: 216411
  • Tổng lượt truy cập: 8610706

Bản tin phổ biến giáo dục pháp luật số 4/2015

Đăng lúc: Thứ năm - 28/01/2016 16:20 - Người đăng bài viết: Tuphaptamky
LỜI NÓI ĐẦU Thời gian qua, công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật trên địa bàn thành phố đã triển khai thường xuyên, đồng bộ từ thành phố đến xã phường, thôn khối phố bằng nhiều hình thức khác nhau. Nhằm đa dạng hóa công tác phổ biến giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này đối với cán bộ và nhân dân. Để công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật được thường xuyên, có hiệu quả, UBND thành phố đã chỉ đạo HĐPH biên soạn tài liệu tuyên truyền để phục vụ cho công tác phổ biến giáo dục pháp luật cho cán bộ và nhân dân.
Việc biên soạn tài liệu này, chúng tôi tham khảo nhiều tập san khác nhau ở trong và ngoài tỉnh. Tuy nhiên để phù hợp với cán bộ công chức, viên chức, người lao động, đoàn viên, hội viên các đoàn thể và nhân dân trên địa bàn thành phố. Chúng tôi rất mong được nhận sự góp ý để tài liệu này thực sự cần thiết và hữu ích cho các phòng ban, ngành đoàn thể và địa phương.
Mọi góp ý xin gửi về địa chỉ:
Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ
70 Hùng Vương Tam Kỳ Quảng Nam
Điện thoại: 0510.3851.772
Website: Http://tuphaptamky.gov.vn
 Email: tuphaptamky@yahoo.com.vn

PHẦN I
VĂN BẢN CHÍNH SÁCH MỚI
--------------------
I. VĂN BẢN TRUNG ƯƠNG
1.      Luật Nghĩa vụ quân sự 2015
Theo Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 thời gian tại ngũ trong thời bình là 24 tháng (trước đây quy định thời gian này là 18 tháng). Trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng quyết định kéo dài thời gian tại ngũ, nhưng không quá 06 tháng. Trong chiến tranh hay tình trạng quốc phòng khẩn cấp, sẽ thực hiện theo lệnh tổng động viên hay động viên cục bộ.
Bên cạnh đó, có nhiều điểm mới so với trước đây như quy định về công dân nữ tham gia nghĩa vụ quan sự; quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm trong nghĩa vụ quân sự; Đối tượng được miễn đăng ký NVQS; Đối tượng được tạm hoãn gọi nhập ngũ; Đối tượng được miễn gọi nhập ngũ
2.      Luật bảo hiểm xã hội 2014
Luật này quy định chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm xã hội, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động; cơ quan bảo hiểm xã hội; quỹ bảo hiểm xã hội; thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội và quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
Theo quy định mới, mức đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) sẽ thay đổi từ đầu năm 2016 tới. Tiền tính đóng bảo hiểm xã hội sẽ gồm lương và phụ cấp thay vì dựa vào bảng lương như hiện nay.
Cụ thể, từ 1/1/2016 đến hết năm 2017 đóng bảo hiểm xã hội dựa trên mức lương và phụ cấp ghi trong hợp đồng. Từ 1/1/2018 trở đi, người lao động đóng bảo hiểm dựa trên mức lương, phụ cấp và nhiều khoản bổ sung khác ghi trong hợp đồng lao động. Người lao động sẽ đóng 8% và doanh nghiệp đóng 18%, chiếm 26% lương hàng tháng.
3.      Luật Căn cước công dân 2014
Luật này quy định về căn cước công dân, Cơ sở dữ liệu căn cước công dân và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; quản lý, sử dụng thẻ Căn cước công dân; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Cũng từ năm 2016 cùng với việc có hiệu lực của Luật , Chứng minh nhân dân thông thường sẽ được thay thế bằng thẻ căn cước công dân.
4. Luật Hộ tịch năm 2014
Có hiệu lực 01/01/2016, quy định thẩm quyền đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài sẽ giao cho UBND cấp huyện giải quyết thay vì thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh như trước đây.
5.      Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt sửa đổi 2014
Có hiệu lực từ ngày 01/01/2016, theo đó: đối với thuốc lá điếu, xì gà và các chế phẩm khác từ cây thuốc lá, thuế suất thuế TTĐB tăng từ 65% lên 70% từ ngày 01/01/2016 và 75% từ ngày 01/01/2019; với rượu dưới 20 độ, thuế suất thuế TTĐB là 30% từ ngày 01/01/2016 và 35% từ ngày 01/01/2018.
Đối với rượu từ 20 độ trở lên và bia, thuế suất thuế TTĐB cũng tăng thêm 5% lên 55% từ ngày 01/01/2016, 60% từ ngày 01/01/2017 và 65% từ ngày 01/01/2018. Tương tự, mức thuế suất thuế TTĐB đối với dịch vụ kinh doanh casino, trò chơi điện tử có thưởng cũng chính thức tăng lên 35% từ ngày 01/01/2016, tăng thêm 5% so với trước đây.
6.      Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015
Luật này quy định về đơn vị hành chính và tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính.
Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có: Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện); Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã); Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt.
Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016.
7.      Luật Mặt trận tổ quốc Việt Nam 2015
Luật này quy định về quyền, trách nhiệm, tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhà nước, Nhân dân và các tổ chức; điều kiện bảo đảm hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
8.       Luật Tổ chức Quốc hội 2014
Luật Tổ chức Quốc hội 2014 quy định nhiệm kỳ của mỗi khóa Quốc hội là 05 năm, kể từ ngày khai mạc kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa đó đến ngày khai mạc kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá sau.
Quốc hội làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số.
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.

9. Chính sách mới đối với lao động nữ

Theo Nghị định 85/2015/NĐ-CP quy định chi tiết Bộ luật Lao động về chính sách đối với lao động nữ, thì lao động nữ có những quyền lợi như sau:

- Được cải thiện điều kiện lao động: Người sử dụng lao động phải đảm bảo có đủ buồng tắm, buồng vệ sinh tại nơi làm việc; khuyến khích áp dụng chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, phù hợp nguyện vọng của lao động nữ.

- Được hưởng các điều kiện chăm sóc sức khỏe như sau:

+ Trong thời gian hành kinh được nghỉ 30 phút/ngày, tối thiểu 03 ngày/tháng; thời gian nghỉ hưởng nguyên lương.

+ Lao động nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ 60 phút/ngày để cho con bú, vắt, trữ sữa, nghỉ ngơi; thời gian nghỉ hưởng nguyên lương…

            10.  Quy định mới về giấy khai sinh
Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch 2014. Theo đó, Giấy khai sinh (GKS) sẽ có giá trị pháp lý như sau:
- Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của cá nhân.
- Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung về họ, chữ đệm, tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với GKS của người đó.
- Nếu nội dung trong hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác với nội dung trong GKS  của người đó thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức quản lý hồ sơ hoặc cấp giấy tờ có trách nhiệm điều chỉnh hồ sơ, giấy tờ theo đúng nội dung trong GKS.
      11. Quy định mới về cấp giấy phép lái xe
            Theo Thông tư 58/2015/TT-BGTVT Quy định về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ thì:
            - Giấy phép lái xe hạng B1 có thời hạn đến khi người lái xe đủ 55 tuổi đối với nữ và đủ 60 tuổi đối với nam; trường hợp người lái xe trên 45 tuổi đối với nữ và trên 50 tuổi đối với nam thì giấy phép lái xe được cấp có thời hạn 10 năm, kể từ ngày cấp.
            - Theo Điều 57 Thông tư 58/2015/TT-BGTV , Giấy phép lái xe bằng giấy bìa phải được chuyển đổi sang giấy phép lái xe mới bằng vật liệu PET theo lộ trình sau:
            + Giấy phép lái xe ô tô và giấy phép lái xe hạng A4: trước ngày 31/12/ 2016.
            + Giấy phép lái xe không thời hạn (các hạng A1, A2, A3): trước ngày 31/12/2020.
            12. Lệ phí thẻ căn cước công dân
            Từ ngày 01/01/2016, việc thu, nộp và quản lý lệ phí thẻ Căn cước công dân được thực hiện theo Thông tư 170/2015/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành.
            Theo đó, mức thu lệ phí khi đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân như sau:
            - Đổi: 50.000 đồng/thẻ; Cấp lại: 70.000 đồng/thẻ.
             Ngoài ra, Thông tư còn quy định rõ các đối tượng không phải nộp lệ phí thẻ Căn cước công dân:
            - Công dân từ đủ 14 tuổi trở lên làm thủ tục cấp thẻ lần đầu.
            - Đổi thẻ Căn cước công dân khi công dân đủ 25 tuổi, đủ 40 tuổi và đủ 60 tuổi.
            - Đổi thẻ Căn cước công dân khi có sai sót về thông tin trên thẻ do lỗi của cơ quan quản lý căn cước công dân.

13. Quy định mới về mức thu lệ phí chứng thực tại Phòng Tư pháp cấp huyện và UBND cấp xã

Kể từ ngày 30/11/2015, mức thu, chế độ thu, nộp và quản lý lệ phí chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, chứng thực hợp đồng, giao dịch thực hiện theo Thông tư liên tịch 158/2015/TTLT-BTC-BTP, như sau:
- Chứng thực bản sao từ bản chính: 2.000 đồng/trang. Từ trang thứ 03 trở lên thu 1.000 đồng/trang, nhưng mức thu tối đa thu không quá 200.000 đồng/bản.
- Chứng thực chữ ký: 10.000 đồng/trường hợp (trường hợp được tính là một hoặc nhiều chữ ký trong một giấy tờ, văn bản).
- Chứng thực hợp đồng, giao dịch:
+ Chứng thực hợp đồng, giao dịch: 30.000 đồng/hợp đồng, giao dịch.
+ Chứng thực việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch: 20.000 đồng/hợp đồng, giao dịch.
+ Sửa lỗi sai sót trong hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực: 10.000 đồng/hợp đồng, giao dịch.
 Riêng đối với trường hợp Cá nhân, hộ gia đình vay vốn tại tổ chức tín dụng để phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo quy định tại Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn thì không phải nộp lệ phí chứng thực hợp đồng thế chấp tài sản.
II. VĂN BẢN ĐỊA PHƯƠNG
1. Quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc đô thị Tam Kỳ
Theo Quyết định số 37/2015/QĐ-UBND ngày 17/12/2015 của UBND tỉnh Quảng Nam về ban hành quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc đô thị Tam Kỳ, thì:
* Các khu vực cấm xây dựng bao gồm:

Hành lang an toàn giao thông đường bộ: Phạm vi cấm xây dựng là toàn bộ hành lang an toàn giao thông đường bộ, xác định theo chỉ giới đường đỏ quy định trong quy hoạch được duyệt.

Hành lang an toàn cầu đường bộ:

-  Quy mô, vị trí cầu:
STT Tên cầu Chiều dài (m) Vị trí
I Cầu có chiều dài < 60m  
1 Hoàng Diệu 5,00 Phường An Sơn
2 Trường Xuân 8,00 Phường Trường Xuân
3 Bà Ngôn 12,00 Xã Tam Ngọc
4 Ngân Hàng 12,00 Phường An Sơn
5 Mỹ 23,70 Phường An Sơn
6 Tây Yên 24,00 Phường Hòa Thuận
7 Ông Dũng 30,00 Phường Trường Xuân
II Cầu có chiều dài 60m  
1 Kỳ Phú I 94,50 Phường An Sơn, Phước Hòa
2 Nguyễn Văn Trỗi 205,45 Phường Tân Thạnh, An Phú
3 Tỉnh Thủy 120,00 Xã Tam Thăng, Tam Thanh
4 Tam Kỳ (cũ) 127,00 Phường An Sơn, Hòa Hương
5 Kỳ Trung 129,00 Xã Tam Phú, Tam Thanh
6 Kỳ Phú II 135,00 Phường An Phú, Phước Hòa
7 Tam Thăng 141,00 Xã Tam Thăng
8 Tam Kỳ (mới) 150,70 Phường An Sơn
9 Tam Phú 473,00 Phường Hòa Hương, Xã Tam Phú
 
-  Phạm vi cấm xây dựng:
   + Theo chiều dọc cầu tính từ đuôi cầu ra mỗi bên: 50m đối với cầu có chiều dài ≥ 60m; 30m đối với cầu có chiều dài < 60m.
               + Theo chiều ngang cầu: Đối với phần cầu chạy trên cạn kể cả phần cầu chạy trên phần đất không ngập nước thường xuyên và các cầu bắc qua sông, kênh, rạch không có hoạt động vận tải đường thủy được tính từ mép ngoài lan can ngoài cùng của cầu ra mỗi bên 07m, phần mố cầu lấy như hành lang đường đô thị; đối với phần cầu còn lại tính từ mép ngoài lan can ngoài cùng của cầu ra mỗi bên: 150m đối với cầu có chiều dài lớn hơn 300m, 100m đối với cầu có chiều dài từ 60m đến 300m, 50m đối với cầu có chiều dài từ 20m đến dưới 60m và 20m đối với cầu có chiều dài nhỏ hơn 20m.
   + Trường hợp khác, phải tuân thủ hồ sơ quy hoạch chi tiết (1/500) được UBND tỉnh xét, duyệt.

Hành lang bảo vệ đường sắt:

Phạm vi bảo vệ trên không của đường sắt tính từ đỉnh ray trở lên theo phương thẳng đứng đối với đường khổ 1.000mm theo cấp kỹ thuật là 5,3m.

Chiều rộng giới hạn hai bên đường sắt tính từ mép chân nền đường đắp, mép đỉnh mái đường đào, mép ray ngoài cùng của đường không đào, không đắp trở ra mỗi bên là 15m; tính từ mép ray ngoài cùng trở ra mỗi bên là 2m đối với đường sắt trong ga, trong tường rào.

Hành lang bảo vệ bờ biển: 100m tính từ đường mực nước thủy triều (được xác định theo quy hoạch chung) về phía đất liền.

Hành lang bảo vệ đối với sông, hồ:

Hành lang bảo vệ sông: Sông Tam Kỳ, sông Trường Giang (Cấp IV): tối thiểu 15m tính từ mép bờ; Sông Bàn Thạch: tối thiểu 10m tính từ mép bờ.

Hành lang bảo vệ đối với hồ: Hồ điều hòa Nguyễn Du, Duy Tân, Nguyễn Văn Trỗi, Trường Xuân: tối thiểu 10m tính từ mép bờ; Hồ sông Đầm: tối thiểu 30m tính từ mép bờ.

 Hành lang bảo vệ an toàn của đường dây dẫn điện trên không:

Chiều rộng hành lang được giới hạn bởi hai mặt thẳng đứng về hai phía của đường dây, song song với đường dây, có khoảng cách từ dây ngoài cùng về mỗi phía khi dây ở trạng thái tĩnh theo quy định trong bảng sau:

Điện áp Đến 22 kV 35 kV 110 kV 220 kV 500 kV
Khoảng cách Dây bọc Dây trần Dây bọc Dây trần Dây trần Dây trần Dây trần
1,0 m 2,0 m 1,5 m 3,0 m 4,0 m 6,0 m 7,0 m
 

 Hành lang bảo vệ an toàn các loại cáp điện đi trên mặt đất hoặc treo trên không được giới hạn về các phía là 0,5 m tính từ mặt ngoài của sợi cáp ngoài cùng.

3. Cơ chế chính sách tỉnh lỵ Tam Kỳ
Theo Nghị quyết 182/2015/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Quảng Nam thì cơ chế chính sách đối với tỉnh lỵ Tam Kỳ đến năm 2020 như sau: 
* Công tác quy hoạch và xây dựng đô thị
Hằng năm ngân sách tỉnh bố trí từ 1 đên 5 tỷ đồng để hỗ trợ thành phố Tam Kỳ lập quy hoạch các dự án trọng điểm.
* Cơ chế đầu tư xây dựng
- Giai đoạn 2016-2020 hỗ trợ thành phố Tam Kỳ tối đa 100 tỷ đồng để xây dựng các công trình trọng điểm.
- Ngân sách tỉnh hỗ trợ 70% nguồn vốn đối ứng giải phóng mặt bằng, tái định cư các dự án ODA đầu tư trên địa bàn thành phố.
* Cơ chế tài chính ngân sách
Hằng năm ngân sách tỉnh bố trí 40 tỷ đồng để bổ sung có mục tiêu kiến thiết thị chính thành phố Tam Kỳ.

PHẦN II
ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN
Những nội dung cơ bản và những điểm mới của
Luật Tổ chức chính quyền địa phương
--------------
 
Ngày 19/6/2015, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016.
1. Phạm vi điều chỉnh
Luật điều chỉnh các vấn đề về đơn vị hành chính và tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính. So với Luật năm 2003. Luật đã bổ sung quy định về đơn vị hành chính và thành lập giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính.
2. Về “đơn vị hành chính tương đương” thuộc thành phố trực thuộc trung ương
Để cụ thể hóa khoản 1 Điều 110 Hiến pháp năm 2013, Luật xác định “đơn vị hành chính tương đương” thuộc thành phố trực thuộc trung ương là ‘‘thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương”.
3. Về mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính
- Theo quy định của Luật, tất cả các đơn vị hành chính đều tổ chức HĐND và UBND (cấp chính quyền địa phương), đồng thời chấm dứt việc thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường.
- Đơn vị hành chính cấp huyện ở hải đảo, tổ chức chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND. Trường hợp đơn vị hành chính cấp huyện tại hải đảo chia thành các đơn vị hành chính cấp xã thì tại đơn vị hành chính cấp xã cũng tổ chức cấp chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND.
- Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt gồm có HĐND và UBND. Cơ cấu tổ chức, cách thức hoạt động của HĐND, UBND tại đơn vị hành chính kinh tế - đặc biệt thực hiện theo quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương. Số lượng đại biểu HĐND, số lượng thành viên UBND và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của HĐND, UBND của đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do Quốc hội quy định khi thành lập đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt đó.
4. Về phân định thẩm quyền giữa trung ương, địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương
Đây là điểm mới của Luật năm 2015 nhằm cụ thể hóa Điều 112 Hiến pháp năm 2013. Theo đó, để tạo cơ sở pháp lý cho việc phân quyền, phân cấp, ủy quyền cho chính quyền địa phương, Luật năm 2015 quy định các nguyên tắc phân định thẩm quyền, các trường hợp phân quyền, phân cấp, ủy quyền. Cụ thể như sau:
4.1. Các nguyên tắc về phân định thẩm quyền
Luật quy định 06 nguyên tắc phân định thẩm quyền như sau:
- Bảo đảm quản lý nhà nước thống nhất về thể chế, chính sách, chiến lược và quy hoạch đối với các ngành, lĩnh vực; bảo đảm tính thống nhất, thông suốt của nền hành chính quốc gia;
- Phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính trong việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật;
- Kết hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ, phân định rõ nhiệm vụ quản lý nhà nước giữa chính quyền địa phương các cấp đối với các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn lãnh thổ;
- Việc phân định thẩm quyền phải phù hợp điều kiện, đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và đặc thù của các ngành, lĩnh vực;
- Những vấn đề liên quan đến phạm vi từ hai đơn vị hành chính cùng cấp trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của chính quyền cấp trên, trừ trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ có quy định khác;
- Chính quyền địa phương được bảo đảm nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được phân quyền, phân cấp và chịu trách nhiệm trong phạm vi được phân quyền, phân cấp
4.2. Về định hướng phân quyền, phân cấp, ủy quyền
- Về phân quyền: Luật quy định việc phân quyền cho các cấp chính quyền địa phương phải được quy định trong các luật. Chính quyền địa phương tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền. Cơ quan nhà nước cấp trên trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền cho các cấp chính quyền địa phương. Các luật khi quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương, của các cơ quan thuộc chính quyền địa phương phải bảo đảm các nguyên tắc về phân định thẩm quyền và phù hợp với các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương quy định tại Luật tổ chức chính quyền địa phương.
- Về phân cấp: Luật quy định căn cứ vào yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình cụ thể khác của địa phương, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được quyền phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện một cách liên tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Việc phân cấp phải bảo đảm các nguyên tắc về phân định thẩm quyền và phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước thực hiện phân cấp, trong đó xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới, trách nhiệm của cơ quan nhà nước phân cấp và cơ quan nhà nước được phân cấp.
Cơ quan nhà nước cấp trên khi phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới phải bảo đảm các nguồn lực và điều kiện cần thiết khác để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân cấp; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã phân cấp và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân cấp.
Cơ quan nhà nước được phân cấp chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước đã phân cấp về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp. Căn cứ tình hình cụ thể ở địa phương, cơ quan nhà nước ở địa phương có thể phân cấp tiếp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp nhưng phải được sự đồng ý của cơ quan nhà nước đã phân cấp.
- Về ủy quyền: Luật quy định trong trường hợp cần thiết, cơ quan hành chính nhà nước cấp trên có thể ủy quyền bằng văn bản cho UBND cấp dưới hoặc cơ quan, tổ chức khác thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong khoảng thời gian xác định kèm theo các điều kiện cụ thể.
Cơ quan hành chính nhà nước cấp trên khi ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp dưới hoặc cơ quan, tổ chức khác phải bảo đảm các nguồn lực và điều kiện cần thiết khác để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình ủy quyền; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã ủy quyền và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình đã ủy quyền.
Cơ quan, tổ chức được ủy quyền phải thực hiện đúng nội dung và chịu trách nhiệm trước cơ quan hành chính nhà nước cấp trên về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình được ủy quyền. Cơ quan, tổ chức nhận ủy quyền không được ủy quyền tiếp cho cơ quan, tổ chức khác thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền.
5. Về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương và của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân
Luật năm 2015 có những điểm mới cơ bản sau đây:
- Quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính theo hướng chủ yếu tập trung ở cấp tỉnh, giảm dần xuống cấp huyện đến cấp xã để tránh tình trạng dồn việc về cấp cơ sở mà không tính đến khả năng đáp ứng của từng cấp chính quyền; nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở địa bàn nông thôn tập trung thực hiện quản lý theo lãnh thổ; ở địa bàn đô thị chú trọng thực hiện quản lý theo ngành, lĩnh vực.
- Quy định chung về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương phải thực hiện như tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn; quyết định những vấn đề của địa phương trong phạm vi được phân quyền, phân cấp; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền...
- Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND và UBND trên các lĩnh vực nhằm thể hiện rõ sự gắn kết chặt chẽ, thống nhất giữa hai thiết chế HĐND và UBND hợp thành chính quyền địa phương:
   + Với tính chất là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, HĐND quyết định các vấn đề của địa phương như quyết định ngân sách; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh trong cơ cấu của chính quyền địa phương; quyết định các biện pháp bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật, các biện pháp bảo đảm việc thực hiện các nhiệm vụ về kinh tế, tài nguyên, môi trường, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể thao, y tế, lao động, chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo, quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật và việc thực hiện các nghị quyết của HĐND trên địa bàn.
   + Với tính chất là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, UBND có nhiệm vụ xây dựng, trình HĐND quyết định những nội dung thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND và tổ chức thực hiện các nghị quyết này sau khi được HĐND thông qua. UBND còn có nhiệm vụ quản lý nhà nước về các lĩnh vực trên địa bàn trong phạm vi được phân quyền, phân cấp, ủy quyền.
   + Với tính chất là người đứng đầu UBND, Chủ tịch UBND có nhiệm vụ lãnh đạo và điều hành công việc của UBND, lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện các nhiệm vụ thi hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, của HĐND và UBND, lãnh đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước trên địa bàn, bảo đảm tính thống nhất, thông suốt của nền hành chính ở địa phương.
- Quy định nhiệm vụ, quyền hạn đặc trưng của chính quyền đô thị nhằm thể hiện sự khác biệt với chính quyền nông thôn:
   + Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở thành phố, thị xã ngoài việc quyết định các vấn đề của địa phương như đối với địa bàn nông thôn, còn tập trung quyết định các vấn đề quy hoạch phát triển đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị, quản lý và tổ chức đời sống dân cư đô thị...
   + Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương quận và phường đã  được điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu quản lý thống nhất, liên thông trong khu vực nội thành, nội thị tại các đô thị. Ngoài việc thực hiện chức năng đại diện và giám sát theo quy định chung, tập trung thực hiện 02 nhóm nhiệm vụ liên quan đến việc quyết định các vấn đề ở địa phương, gồm: (1) Thông qua ngân sách quận, phường theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và (2) Bầu nhân sự của HĐND, UBND cùng cấp.
(Còn tiếp)

PHẦN III
HƯỚNG DẪN NGHIỆP VỤ TUYÊN TRUYỀN
-------------------------
Chuyên đề: Kỹ năng tuyên truyền miệng
1. Gây thiện cảm ban đầu cho người nghe
Việc gây thiện cảm ban đầu cho người nghe rất quan trọng. Thiện cảm ban đầu thể hiện ở nhân thân, tâm thế và biểu hiện của người nói khi bước lên bục tuyên truyền. Danh tiếng, phẩm chất đạo đức, học hàm, học vị, chức vụ của người nói là nguồn thiện cảm ban đầu cho người nghe; kích thích người nghe háo hức chờ đón buổi tuyên truyền. Thiện cảm ban đầu tạo ra sự hứng thú, say mê của người nghe, củng cố được niềm tin về vấn đề đang tuyên truyền. Thiện cảm ban đầu còn được tạo ra bởi khung cảnh của hội trường, khung cảnh của diễn đàn, dáng vẻ bề ngoài, y phục, nét mặt, cử chỉ, phong thái, lời giao tiếp ban đầu. Như vậy, báo cáo viên cần phải tươi cười bao quát hội trường, có lời chào mừng, chúc tụng, có câu mở đầu dí dỏm, hài hước, công bố thời gian, chương trình làm việc rõ ràng, thoải mái... sẽ gây được thiện cảm ban đầu đối với người nghe. Thế nhưng, thiện cảm ban đầu chủ yếu là ở cách đặt vấn đề đầu tiên của người nói. Trong những phút đầu tiên của bài giới thiệu, người nói phải nêu được khoảng từ 3, 4 vấn đề chủ yếu mà người nghe cần tìm hiểu nhất. Ví dụ khi tuyên truyền cho đối tượng là công nhân về Bộ luật Lao động thì các vấn đề mà công nhân quan tâm nhất là hợp đồng lao động; bảo hộ lao động; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; tiền lương; bảo hiểm xã hội... Việc nêu các vấn đề đó còn tuỳ thuộc ở khả năng thuyết trình của báo cáo viên. Báo cáo viên có thể bắt đầu từ một câu chuyện pháp luật được các phương tiện thông tin đại chúng nói đến nhiều thời gian qua hoặc có thể bắt đầu từ một bộ phim đã chiếu khá phổ biến hoặc cũng có thể bằng các tình huống xảy ra gần địa bàn nơi tổ chức tuyên truyền...
2. Tạo sự hấp dẫn, gây ấn tượng trong khi nói
Nghệ thuật tuyên truyền là tạo nên sự hấp dẫn, gây ấn tượng bằng giọng nói, điệu bộ, ngôn ngữ. Giọng nói phải rõ ràng, mạch lạc nhưng truyền cảm. Hết sức tránh lối nói đều đều. Giọng nói, âm lượng phải thay đổi theo nội dung và nhấn mạnh vào những điểm quan trọng, cần phải chú ý. Động tác, cử chỉ cần phải phù hợp với nội dung và giọng nói để nâng cao hiệu quả tuyên truyền của lời nói. Sắc thái có tác dụng truyền cảm rất lớn. Vẻ mặt của người nói cần thay đổi theo diễn biến của nội dung. Khi nói, cần chú ý nhìn vào một nhóm người ngồi dưới, thỉnh thoảng người nói cần thay đổi vị trí nhìn để tạo sự chú ý của cử tọa. Người nói cần đưa ra số liệu, sự kiện để minh hoạ, đặt câu hỏi để tăng thêm sự chú ý của người nghe.
Người nói cũng cần phát huy vai trò thông tin, truyền cảm của ngôn ngữ bằng cách sử dụng chính xác, đúng mực thuật ngữ pháp lý, thuật ngữ chuyên ngành và ngôn ngữ phổ thông. Người nói có thể kết hợp, lồng ghép, sử dụng hợp lý, chính xác ý tứ, ngôn từ trong kinh điển, thơ văn, ca dao, dân ca vào buổi tuyên truyền pháp luật để tăng tính hấp dẫn, thuyết phục đối với người nghe.
3. Bảo đảm các nguyên tắc sư phạm trong tuyên truyền miệng
Người nói cần tôn trọng các nguyên tắc sư phạm. Từ bố cục bài nói, diễn đạt các đoạn văn, liên kết giữa các đoạn văn đến cách nói đều phải rõ ràng, mạch lạc, lôgic. Người nghe cần được dẫn dắt từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ gần đến xa (phương pháp suy diễn) hoặc từ xa đến gần (phương pháp quy nạp) và tuỳ từng vấn đề mà dùng lý luận soi sáng cho thực tiễn hoặc từ thực tiễn mà đi sâu vào lý luận. Mục đích cuối cùng vẫn là để người nghe hiểu rõ hơn, toàn diện hơn về những vấn đề mà người nói đã nêu ra. Tuy nhiên dù phân tích, diễn giải rộng hay hẹp đều phải luôn bám sát trọng tâm của vấn đề.
(Còn tiếp)
PHẦN IV
TIN NỔI BẬT VỀ HOẠT ĐỘNG PHỔ BIẾN
PHÁP LUẬT TRONG QUÝ 4 /2015
1. Tam Kỳ tổ chức Hội thi Rung Chuông vàng
Thực hiện kế hoạch tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật năm 2015, sáng 28/11, Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ phối hợp với Phòng Giáo dục và đào tạo thành phố tổ chức Hội thi tìm hiểu pháp luật cho học sinh cấp tiểu học năm học 2015-2016.
Hội thi được tổ chức dưới hình thức "Rung chuông vàng" với sự tham gia của 280 em học sinh khối lớp 4, lớp 5 đến từ 14 trường tiểu học, đại diện cho hơn 8000 học sinh cấp tiểu học trên toàn địa bàn thành phố. Các em học sinh phải trải qua 03 chặng thi, mỗi chặng gồm 10 câu hỏi dưới hình thức trắc nghiệm. Nội dung các câu hỏi liên quan đến Luật Giao thông đường bộ, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Kết thúc chặng thứ nhất là phần cứu trợ giành cho các trưởng đoàn (giáo viên phụ trách) dưới dạng "xé dán một câu khẩu hiệu tuyên truyền pháp luật mà bạn tâm đắc", số em học sinh trở lại sàn thi đấu sẽ phụ thuộc vào số chữ mà trưởng đoàn có được. Kết thúc chặng thứ 02 là phần thi xử lý tình huống giành cho các đội trưởng. Cuộc thi đã dừng lại ở câu hỏi thứ 25 khi còn duy nhất 01 em trên sàn thi đấu.
Kết thúc hội thi, giải "Rung chuông vàng" đã thuộc về em Phạm Phú Quang Minh, học sinh lớp 4, trường Tiểu học Võ Thị Sáu; Giải nhất toàn đoàn thuộc về tập thể trường TH Lê Thị Hồng Gấm; Giải nhì toàn đoàn thuộc về tập thể trường TH Võ Thị Sáu và TH Hùng Vương; Giải Ba toàn đoàn thuộc về tập thể trường TH Nguyễn Văn Trỗi, TH Trần Quốc Toàn, TH Lê Văn Tám; Ngoài ra, Ban tổ chức còn trao 6 giải khuyến khích cho các trường có thành tích cao trong hội thi.
Thúy Sương

            2. Tam Kỳ tuyên truyền luật cho đội ngũ giáo viên trên toàn thành phố

Hưởng ứng Ngày pháp luật Việt Nam (09/11), ngày 31/10 và ngày 05/11, Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ phối hợp với Phòng Giáo dục và đào tạo thành phố tổ chức Hội nghị tuyên truyền Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo cho gần 1.400 cán bộ, giáo viên, nhân viên các trường Mẫu giáo, Mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở trên toàn địa bàn thành phố.
Đợt tuyên truyền được chia làm 03 cụm, mỗi cụm gồm 2 lớp. Cụm thứ nhất tại Hội trường UBND xã Tam Phú, cụm thứ 02 tại Hội trường UBND phường Tân Thạnh, cụm thứ 03 tại Hội trường THCS Lý Tự Trọng.
Tại hội nghị, các thầy, cô giáo được báo cáo viên pháp luật thành phố triển khai những nội dung cơ bản của Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo như chủ thể khiếu nại, tố cáo; trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo; thẩm quyền giải quyết khiếu nại, thẩm quyền giải quyết tố cáo,… Kết thúc hội nghị có làm bài thu hoạch, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, kết quả đánh giá sẽ được BTC gửi về cho từng trường.
Đây là hội nghị hết sức ý nghĩa, giúp cán bộ, giáo viên, nhân viên trên toàn địa bàn thành phổ nắm chắc những quy định của pháp luật, thực hiện đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo đã được quy định trong Hiến pháp và Luật, hạn chế tình trạng khiếu kiện vượt cấp./.
Thúy Sương
 
            3. Công bố kết quả thi pháp luật trực tuyến
            - Đợt 1 (01/10-01/11/2015)
STT Người/ đơn vị nhận Giải
01 Trường THCS Lê Lợi Giải tập thể
02 Nguyễn Thanh Yên - Cán bộ UBND xã Tam Ngọc Giải nhất
03 Trần Thanh Tiên - Giáo viên trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai Giải nhất
04 Trương Vĩnh Bá - Cán bộ UBND xã Tam Ngọc Giải nhì
05 Nguyễn Công Huy - Dân quân thường trực phường Tân Thạnh Giải nhì
06 Dương Thị Lệ Chi - Giáo viên trường THCS Lê Lợi Giải ba
07 Nguyễn Trường Nhân - Cán bộ UBND phường Tân Thạnh Giải ba
08 Ngô Thị Cương - Sinh viên trường Cao đẳng y tế Quảng Nam Giải khuyến khích
09 Lê Đình Tài - Học sinh trường THCS Lê Lợi Giải khuyến khích
10 Nguyễn Thị Lài - Nhân viên thư viện trường Tiểu học Kim Đồng Giải khuyến khích
11 Nguyễn Hoàng Bin - Phóng viên Đài Truyền thanh - truyền hình Tam Kỳ Giải khuyến khích
12 Ưng Trần Trung Việt - Giáo viên trường THCS Lê Lợi Giải khuyến khích
13 Nguyễn Hữu Quỳnh Trang - Học sinh trường Tiểu học Kim Đồng Giải khuyến khích
 
- Đợt 2: 02/11/2015-31/12/2015
STT Người/ đơn vị nhận Giải
01 Tập thể trường Tiểu học Hùng Vương Giải tập thể
02 Hoàng Thanh Tùng - Cán bộ UBND phường Tân Thạnh Giải nhất
03 Lương Thị Gái - Cán bộ UBND phường An Phú Giải nhất
04 Nguyễn Hữu Quỳnh Trang - Học sinh trường tiểu học Kim Đồng Giải nhì
05 Nguyễn Hữu Quỳnh Trang - Học sinh trường tiểu học Kim Đồng  Giải nhì
06 Doãn Thỵ Cận - Cán bộ UBND phường An Phú Giải ba
07 Trương Văn Quý - Cán bộ UBND phường An Phú Giải ba
08 Nguyễn Thanh Thái - Giáo viên trường tiểu học Lê Thị Hồng Gấm Giải khuyến khích
09 Trịnh Ngọc Đông - Cán bộ UBND phường An Phú Giải khuyến khích
10 Phan Văn Ngọc - Cán bộ UBND phường Tân Thạnh Giải khuyến khích
11 Trần Thị Ái Ca - Giáo viên trường THCS Nguyễn Du Giải khuyến khích
12 Đoàn Quang Khải - Đài Truyền thanh truyền hình thành phố Giải khuyến khích
13 Thái Thị Thảo Vy - Học sinh trường Tiểu học Hùng Vương Giải khuyến khích
 

PHẦN V
CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT
***
Ngày xuân vui
Tuân vừa bước lên thềm nhà đã hồ hởi: Chào anh Thạp! đầu xuân năm mới em đến chúc hai anh chị và các cháu một năm mới thật nhiều sức khỏe, tài lộc cứ phải gọi là tuôn vào như nước lũ Katrina bên Mỹ 2005!
- Thạp tươi cười bắt tay Tuân đáp: Cảm ơn chú! tôi thay mặt gia đình cũng chúc chú năm mới an khang, hoạn lộ, hanh thông về tài lộc, công danh. Tuân mở lời: Dạ, Tết năm nay thời tiết phải nói là miễn chê bác nhỉ, hôm qua mồng 1 tết có chút mưa xuân nho nhỏ, nay thì tạnh ráo đúng là đậm vị đặc trưng của mùa xuân bác ạ.
- Chú nói phải, cái vị xuân miền Bắc nước mình như này là đố ở đâu trên thế giới này có được. Thế tết này hôm qua chú đi chúc tết được nhiều chưa? – Thạp hỏi.
- Tuân đáp:
- Hôm qua em cũng đi kha khá rồi bác ạ, hai bên nội ngoại em cũng đi cả rồi.
- Nay anh cũng phải ở nhà để đón khách đến chúc, còn cho mẹ con nhà nó đi chơi, du xuân chúc tết.
- Tuân tiếp lời: Anh ở nhà mà em cũng rảnh hay anh em mình làm tý nhỉ?
- Tý gì cơ? – Thạp hỏi.
- Tuân nháy mắt tinh quái hướng sang bộ tú lơ khơ mà có để sẵn ở chỗ tủ để ti vi nhà Thạp.
- Thạp cười tỏ vẻ đã hiểu.
- Tuân nói tiếp: Thế giờ có 02 anh em mình rồi, thiếu hai chân nữa là đủ chiếu.
- Thạp đáp: Chú xem gọi thằng Toàn và Dũng được không.
- Thằng Dũng thì khỏi bàn rồi, lúc nào nó cũng dày mình mang cả hơn chục củ mỗi khi đánh bài ấy. Nhưng thằng Toàn em thấy nó cũng được, thằng đó chơi đẹp và nó cũng quân tử mỗi tội thằng đó ví nó mỏng lắm, em sợ nó mang vài trăm ngàn rồi nếu đỏ thì nó đào hết mỏ của anh em mình, còn anh em mình mà vận hên thắng thì nó lại cứ hỏi vay anh em mình ý.
- Thạp cười lớn: Kha kha, chú không biết cách đây vài hôm nó trúng quả à?
- Quả gì cơ? – Tuân háo hức hỏi.
- Thì cách đây mấy hôm nó trúng con lô kiếm hơn hai chục triệu đó.
- Vậy ạ, thế mà em có biết đâu. Vậy bác gọi cho thằng Dũng đến đi, còn em gọi điện bảo thằng Toàn tới nhà bác luôn để anh em mình vui xuân.
- Khoảng 05 phút sau vừa nghe thấy tiếng xe máy thì Dũng và Toàn đã đến sân, cả hai hồ hởi với câu đầu môi: Chúc các bác năm mới tốt lành, vạn sự gặp may!
- Thạp ra đón tiếp: Vâng cảm ơn, mời các chú vào nhà.
- Vừa vào nhà Toàn, Dũng đã thấy chiếc chiếu chải sẵn ở gian nhà cạnh và trên chiếu là bộ tú lơ khơ màu đỏ chót còn mới tinh mà Thạp đã chuẩn bị từ trước. Dũng nhanh nhảu nói: Ngồi vào luôn thôi các bác! Dũng vừa nói vừa ngồi luôn xuống chiếu nơi có bộ bài. Tiếp đó Thạp, Tuân, Toàn cũng ngồi xuống chiếu.
- Vừa ngồi, Thạp nói: Anh em mình toàn là người trong nhà cứ phải cho rõ ràng, mất lòng trước được lòng sau. Anh có hơn 3 triệu để chơi với anh em đây - vừa nói Thạp vừa lấy ví trong túi áo ném xuống chiếu.
- Tuân hiểu ý cũng rút tệp tiền đặt xuống chiếu: Em có gần 2 triệu chơi với các bác;
- Dũng tiếp lời, em có hơn 1 triệu để chơi đây rồi đập tiền xuống chiếu;
- Toàn cười, nói: Các bác cứ nghĩ em đến rồi vay tiền các bác chơi rồi thịt các bác vậy. Của em đây, Toàn đạp đét một tiếng xuống chiếu – 3 triệu của em chơi tới bến với các bác đây.
- Thạp lên tiếng: Vậy là được rồi, anh em mình chơi tá lả. Chơi theo thể thức 2,3,4 còn móm thì 50.000đ; ù 60.000đ. Chơi ù đền cả làng nhé và không chơi gửi.
- Toàn, Tuân, Dũng ừ nhất trí. Cả 04 mải miết đánh bài được một lúc thì ông Tâm là bố của Thạp đi đâu đó về, bước vào nhà ông Tâm nói: Mấy đứa nghỉ đi, không được đánh bài bạc ở đây đâu, Công an họ phát hiện bắt mà lại khổ cả nút.
- Tuân cười nói: Không sao đâu bố ạ, chúng con chỉ chơi vui ngày xuân mà, có phải đánh bài bạc gì nhiều tiền đâu. Chúng con chỉ chơi Phỏm tý có đánh Sóc đĩa đâu mà bố bảo đánh bạc.
- Chúng mày có lớn mà không hiểu biết gì cả. Không phải chỉ đánh sóc đĩa mới là đánh bạc đâu. Tao vừa ở nhà văn hóa thôn về, trưởng thôn vừa họp nhắc nhở các gia đình không được để xảy ra tình trạng đánh bạc, đặc biệt là trong dịp tết này. Do chơi thân với ông Đình – trưởng thôn nên tao mới mượn được quyển Bộ luật hình sự năm 2015 để tham khảo thêm đây, để tao đọc cái tội đánh bạc cho mà nghe – giọng ông Tâm tỏ vẻ trầm trọng: Tại Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 có quy định về Tội đánh bạc như sau:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;
c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
d) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
- Tuân hốt hoảng: Ôi! May mà có bố am hiểu quy định của luật.
- Thạp tiếp lời: Tổng số tiền chúng con đánh bài hơn 8 triệu đồng, bố mà không bảo là tụi con tưởng chơi vui không việc gì. Thế này mà bị bắt là dễ chúng con có khi phải đi tù ấy chứ.
- Dũng cũng góp thêm câu chuyện: Thôi chúng ta nghỉ, em cũng không đánh nữa đâu. Còn đánh bài mà bị bắt thành ra Ngày xuân vui chóng tàn mấy bác ạ.
Dũng vừa dừng lời thì cả 04 người đều dừng lại không tham gia chơi phỏm nữ, ai nấy vẻ mặt như bừng sáng hơn vì vừa biết được một thông tin hữu ích mới.
Nguồn: moj.gov.vn
 
 
 
 
 
 
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Tin mới

Thăm dò ý kiến

Đánh giá thái độ phục vụ của công chức Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ

Thoải mái, dễ chịu, vui vẻ

Hướng dẫn tận tình, chu đáo

Hướng dẫn thờ ơ, qua loa

Ý kiến khác

Phóng sự giao trả hồ sơ tận nhà trên lĩnh vực Hộ tịch