Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng nhì


UBND xã  Tam Thanh dẫn đầu phong trào thi đua  Quý 3 năm 2017























 

:::Thống kê:::

  • Đang truy cập: 69
  • Khách viếng thăm: 68
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 9773
  • Tháng hiện tại: 148037
  • Tổng lượt truy cập: 8237635

Bản tin phổ biến giáo dục pháp luật số 02/2017 của Phòng Tư pháp Tam Kỳ

Đăng lúc: Thứ tư - 19/07/2017 13:48 - Người đăng bài viết: Tuphaptamky
LỜI NÓI ĐẦU Thời gian qua, công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trên địa bàn thành phố đã được triển khai thường xuyên, đồng bộ từ thành phố đến xã phường, thôn khối phố bằng nhiều hình thức khác nhau, qua đó đã kịp thời thông tin, tuyên truyền các chính sách pháp luật tới cán bộ và nhân dân. Nhằm tiếp tục đa dạng hóa công tác phổ biến giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này đối với cán bộ và nhân dân, UBND thành phố đã chỉ đạo Phòng Tư pháp – cơ quan thường trực của Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật thành phố biên soạn tài liệu tuyên truyền để phục vụ cho công tác phổ biến giáo dục pháp luật..

Việc biên soạn tài liệu này, chúng tôi tham khảo nhiều tập san khác nhau ở trong và ngoài tỉnh. Tuy nhiên để phù hợp với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, đoàn viên, hội viên các đoàn thể và nhân dân trên địa bàn thành phố, chúng tôi rất mong  nhận được sự góp ý để tài liệu này thực sự cần thiết và hữu ích cho các phòng ban, ngành đoàn thể và địa phương.
Mọi góp ý xin gửi về địa chỉ:
Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ
70 Hùng Vương Tam Kỳ Quảng Nam
Điện thoại: 0235. 851.772
Website: Http://tuphaptamky.gov.vn
 Email: tuphaptamky@yahoo.com.vn
Facebook: tuphaptamky

PHẦN I
VĂN BẢN CHÍNH SÁCH MỚI
(Tổng hợp các văn bản được ban hành từ 01/4/2017-30/6/2017)
--------------
I. VĂN BẢN CỦA TRUNG ƯƠNG
1. Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017
Được Quốc hội thông qua vào ngày 12/6/2017, với tỷ lệ 410/442 đại biểu Quốc hội phiếu tán thành, bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018, theo đó: Doanh nghiệp nhỏ và vừa được chuyển đổi từ hộ kinh doanh nếu đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 16 của Luật này sẽ được hỗ trợ như sau:
- Được tư vấn, hướng dẫn miễn phí về hồ sơ, thủ tục thành lập doanh nghiệp;
- Miễn lệ phí đăng ký doanh nghiệp, phí cung cấp thông tin doanh nghiệp lần đầu và các khoản phí, lệ phí đăng ký đối với các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện;
- Được miễn lệ phí môn bài, tư vấn, hướng dẫn miễn phí về các thủ tục hành chính thuế và chế độ kế toán trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu;
- Miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp có thời hạn theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Miễn, giảm tiền sử dụng đất có thời hạn theo quy định của pháp luật về đất đai.
2. Luật Quản lý ngoại thương 2017
Được Quốc hội thông qua vào ngày 12/6/2017, với 88,19% số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018, theo đó quy định việc quản lý theo giấy phép, theo điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu như sau: 
- Chỉ áp dụng biện pháp quản lý theo điều kiện trong các trường hợp cần thiết vì lý do trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng, thuần phong mỹ tục, bảo vệ môi trường.
- Việc áp dụng biện pháp quản lý theo giấy phép, theo điều kiện phải bảo đảm công khai, minh bạch; tiết kiệm thời gian, chi phí của cơ quan quản lý nhà nước và của thương nhân.
- Trên cơ sở tuân thủ điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
- Chính phủ quy định:
+ Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, theo điều kiện;
+ Phương thức, phạm vi quản lý của các Bộ, cơ quan ngang Bộ đối với hàng hóa thuộc Danh mục;
+ Trình tự, thủ tục cấp giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu.
- Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm công bố công khai Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, theo điều kiện và công bố điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu đối với hàng hóa thuộc Danh mục.
3. Luật Đường sắt 2017
Được Quốc hội thông qua vào ngày 16/6/2017, với 397/403 ĐBQH biểu quyết tán thành, bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2018, theo đó, dành 01 Chương để quy định về các vấn đề liên quan đến đường sắt trên cao, đơn cử như:
- Yêu cầu chung đối với đường sắt tốc độ cao (Kết nối hiệu quả các đô thị lớn, trung tâm kinh tế, vùng kinh tế trọng điểm và phương thức vận tải khác; Bảo đảm đồng bộ, hiện đại, an toàn…).
- Chính sách phát triển đường sắt tốc độ cao (Tập trung phát triển đường sắt tốc độ cao kết nối các vùng kinh tế trọng điểm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội…).
- Yêu cầu đối với kết cấu hạ tầng đường sắt tốc độ cao (bảo đảm ổn định, bền vững và đáp ứng yêu cầu kỹ thuật về an toàn, môi trường, phòng, chống cháy, nổ…).
- Quản lý, khai thác, bảo trì đường sắt tốc độ cao.
- Quản lý an toàn đường sắt tốc độ cao.
4. Luật Chuyển giao công nghệ 2017
Được Quốc hội thông qua vào ngày 19/6/2017, với 93,28% số ĐBQH tán thành và có hiệu lực 01/7/2018, theo đó quy định về việc giao kết hợp đồng chuyển giao công nghệ như sau: 
- Hợp đồng phải được các bên ký, đóng dấu (nếu có); ký, đóng dấu giáp lai (nếu có) vào các trang của hợp đồng, phụ lục hợp đồng;
(Luật hiện hành 2006 chỉ yêu cầu các bên ký kết, đóng dấu và có chữ ký tắt của các bên, đóng dấu giáp lai vào các trang của hợp đồng và phụ lục nếu một trong các bên là tổ chức khi có nhu cầu đăng ký hợp đồng)
- Ngôn ngữ trong hợp đồng do các bên thỏa thuận (không còn quy định trường hợp cần giao dịch tại Việt Nam thì phải có hợp đồng bằng tiếng Việt).
Ngoài ra, hợp đồng chuyển giao thuộc một trong các trường hợp sau phải đăng ký với cơ quan nhà nước (trừ công nghệ hạn chế chuyển giao đã được cấp Giấy phép chuyển giao):
- Chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam, từ Việt Nam ra nước ngoài;
- Chuyển giao công nghệ trong nước có sử dụng vốn hoặc NSNN, trừ trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ.
5. Luật Thủy lợi  2017
Được Quốc hội thông qua vào ngày 19/6/2017, với 457/459 đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018, theo đó tổ chức, cá nhân trước khi vận hành xả lũ phải thông báo cho chính quyền địa phương và các cơ quan có liên quan theo quy trình vận hành được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Ngoài ra, Luật thủy lợi 2017 còn đề cập đến nhiều nội dung quan trọng khác, như là:
- Hồ chứa thủy điện vận hành theo chế độ điều tiết ngày phải có giải pháp bảo đảm công trình thủy lợi ở hạ du hoạt động bình thường.
            - Sửa đổi quy định về thẩm quyền cấp, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi giấy phép về tài nguyên nước tại Khoản 1 Điều 73 của Luật Tài nguyên nước 2012.
- Các loại giấy phép trong lĩnh vực thủy lợi đã được cấp trước ngày 01/7/2018 mà chưa hết thời hạn của giấy phép thì được tiếp tục sử dụng cho đến khi hết thời hạn.
6. Luật Du lịch 2017
Được Quốc hội thông qua ngày 19/6/2017, với 438 phiếu tán thành, chiếm 89,21% tổng số đại biểu Quốc hội, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, theo đó Luật quy định rõ những hành vi bị nghiêm cấm, trong đó có quy định nghiêm cấm làm phương hại đến chủ quyền, lợi ích quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, truyền thống văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc; lợi dụng hoạt động du lịch để đưa người ra nước ngoài hoặc vào Việt Nam trái pháp luật; xâm hại tài nguyên du lịch, môi trường du lịch; phân biệt đối xử với khách du lịch, thu lợi bất hợp pháp từ khách du lịch, tranh giành khách, nài ép khách mua hàng hóa, dịch vụ; kinh doanh trong lĩnh vực du lịch khi chưa đủ điều kiện, không có giấy phép kinh doanh hoặc không duy trì điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; sử dụng giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành của doanh nghiệp khác hoặc cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành của doanh nghiệp để hoạt động kinh doanh; hành nghề hướng dẫn du lịch khi không đủ điều kiện hành nghề; quảng cáo không đúng loại, hạng cơ sở lưu trú du lịch đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận; quảng cáo về loại, hạng cơ sở lưu trú du lịch khi chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận…
7. Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước 2017
Được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017, với 92,46% ý kiến đại biểu Quốc hội tán thành, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2018, theo đó cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại sẽ phải chủ động thông báo bằng văn bản cho người bị thiệt hại về việc Nhà nước tổ chức thực hiện phục hồi danh dự mà không phải đợi họ yêu cầu.
- Nếu người bị thiệt hại đồng ý với nội dung thông báo thì cơ quan thông báo thực hiện phục hồi danh dự, nếu không đồng ý thì người bị thiệt hại có ý kiến để cơ quan có cơ sở thực hiện khôi phục danh dự.
- Trường hợp người bị thiệt hại đề nghị chưa thực hiện phục hồi danh dự thì việc này được thực hiện khi người bị thiệt hại có yêu cầu bằng văn bản; trường hợp từ chối thì sẽ không còn quyền yêu cầu nữa.
- Trường hợp người bị thiệt hại chết thì cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại phải thực hiện việc đăng báo xin lỗi và cải chính công khai.
8. Luật Trợ giúp pháp lý 2017
Được Quốc hội thông qua vào ngày 20/6/2017, với 458/458 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, theo đó người được trợ giúp pháp lý  bao gồm:
- Người có công với cách mạng;   Người thuộc hộ nghèo;  Trẻ em;   Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;  Người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi;  Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo;   Người thuộc một trong các trường hợp sau đây có khó khăn về tài chính ( Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ;  Người nhiễm chất độc da cam;   Người cao tuổi; Người khuyết tật;  Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự;  Nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình; Nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người;   Người nhiễm HIV.)
9. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2017
Được Quốc hội thông qua vào ngày 20/6/2017, với 434 đại biểu Quốc hội tán thành, chiếm tỷ lệ 88,39%, có hiệu lực từ 1/1/2018, theo đó có một số điểm mới nổi bật như sau:
-  Người không tố giác là người bào chữa thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm, trừ những trường hợp sau đây:
+ Các tội quy định tại Chương XIII (các tội xâm phạm an ninh quốc gia); hoặc
+ Tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.
- Bổ sung Điều 217a quy định về Tội vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp.
- Bãi bỏ Điều 292 quy định về Tội cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông.
10. Luật Cảnh vệ 2017
Được Quốc hội thông qua vào ngày 20/6/2017, với 455 phiếu tán thành, chiếm 92,67% tổng số đại biểu Quốc hội, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2018, theo đó cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ trong khi thi hành nhiệm vụ phải tuân thủ các nguyên tắc sử dụng vũ khí quân dụng và chỉ được nổ súng trong các trường hợp sau đây:
- Cảnh báo đối tượng đang đột nhập vào khu vực, mục tiêu cảnh vệ.
- Nổ súng vào đối tượng đang đột nhập vào khu vực, mục tiêu cảnh vệ, sau khi đã ra hiệu lệnh dừng lại và bắn chỉ thiên nhưng không hiệu quả.
            - Vô hiệu hóa đối tượng đang có hành vi tấn công trực tiếp đối tượng cảnh vệ hoặc cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ đang thực hiện nhiệm vụ.
- Các trường hợp khác theo Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ 2017.
11. Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ 2017
Được Quốc hội thông qua vào ngày 20/6/2017, Với 457/462 đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2018, theo đó 06 trường hợp người thi hành nhiệm vụ độc lập được nổ súng vào đối tượng mà không cần cảnh báo. Đơn cử như sau:  Đối tượng đang sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, vũ lực đe dọa trực tiếp đến tính mạng của người thi hành công vụ hoặc người khác; Đối tượng đang trực tiếp thực hiện hành vi cướp súng của người thi hành công vụ…Đồng thời, Luật còn có những nội dung mới khác, như là:
           - Ngoài tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, các tổ chức, doanh nghiệp khác khi có đủ điều kiện vẫn được nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu, sửa chữa vũ khí.
- Bổ sung thêm đối tượng được trang bị vũ khí quân dụng, gồm: cảnh sát biển; cơ yếu; cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
12. Luật quản lý, sử dụng tài sản công 2017
Được Quốc hội thông qua vào ngày 21/6/2017, với 460/466 đại biểu Quốc hội tán thành, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, theo đó đơn vị sự nghiệp công lập được sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê trong các trường hợp:
- Tài sản được giao, đầu tư mua sắm thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao nhưng chưa sử dụng hết công suất.
- Tài sản không do ngân sách Nhà nước đầu tư được mua sắm theo dự án do cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt để phục vụ hoạt động kinh doanh, cho thuê. Thẩm quyền phê duyệt đề án sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh cho thuê cụ thể như sau:
- Đối với tài sản là cơ sở hoạt động sự nghiệp; tài sản khác có giá trị lớn theo quy định của Chính phủ do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan TW, Chủ tịch UBND cấp  tỉnh phê duyệt đề án.
- Đối với tài sản khác do Hội đồng quản lý hoặc người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập phê duyệt.
13. Tăng lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang
            Ngày 24/4/2017, Chính phủ  ban hành Nghị định số 47/2017/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang (có hiệu lực 01/7/2017) làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động ở T.Ư, ở cấp tỉnh, thành phố; cấp huyện và cấp xã; ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và lực lượng vũ trang. Từ ngày 1-7-2017, mức lương cơ sở là 1,3 triệu đồng/tháng.
14. Ban hành quy định chi tiết hướng dẫn Luật trẻ em
Ngày 9/5/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định 56/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật trẻ em (có hiệu lực 01/7/2017) , theo đó đã quy định rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong việc bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của từng gia đình, nhà trường, doanh nghiệp, cộng đồng và các cơ quan quản lý nhà nước trong việc bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.
Nghị định quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trên môi trường mạng phải phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tổ chức, cá nhân khác trong việc bảo đảm an toàn thông tin của trẻ em trên môi trường mạng; ngăn chặn thông tin gây hại cho trẻ em theo quy định của pháp luật về an toàn thông tin mạng; doanh nghiệp kinh doanh, cung cấp dịch vụ trên mạng phải có biện pháp sử dụng dịch vụ bảo vệ người sử dụng là trẻ em. Doanh nghiệp kinh doanh cung cấp dịch vụ trên môi trường mạng phải cảnh báo hoặc gỡ bỏ thông tin, dịch vụ gây hại cho trẻ em, dịch vụ giả mạo, xuyên tạc xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em. Doanh nghiệp cung cấp dịch trò chơi điện tử trên môi trường mạng phải có công cụ kiểm soát thời gian, bảo vệ trẻ em khỏi tình trạng lạm dụng, nghiện trò chơi điện tử. Tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân hoạt động, cung cấp dịch vụ trên môi trường mạng phải xây dựng hoặc sử dụng, phổ biến phần mềm, các công cụ bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.

15. Đồng loạt tăng lương hưu và trợ cấp cho 8 nhóm đối tượng

Ngày 30/6/2017, Chính phủ ban hành Nghị định 76/2017/NĐ-CP điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng. Theo đó, từ 1/7/2017, 8 nhóm đối tượng sẽ được tăng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng, gồm:
- Cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động (kể cả người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người nghỉ hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An chuyển sang theo Quyết định số 41/2009/QĐ-TTg ngày 16 tháng 3 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ); quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hàng tháng.
- Cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2003 và Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 1998 của Chính phủ đang hưởng lương hưu và trợ cấp hàng tháng.
- Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng theo quy định của pháp luật; người đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg ngày 04 tháng 8 năm 2000, Quyết định số 613/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ; công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hàng tháng.
- Cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 130/CP ngày 20 tháng 6 năm 1975 của Hội đồng Chính phủ và Quyết định số 111-HĐBT ngày 13 tháng 10 năm 1981 của Hội đồng Bộ trưởng.
- Quân nhân đang hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27 tháng 10 năm 2008, Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ.
- Công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg ngày 20 tháng 8 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ.
- Quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09 tháng 11 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ
- Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng.
Nghị định 76/2017/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2017, các chế độ quy định trong Nghị định có hiệu lực từ 1/7/2017.

16. Tăng mức trợ cấp đối với người có công

Ngày 06/6/2017, Chính phủ ban hành Nghị định 70/2017/NĐ-CP quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng, theo đó  mức chuẩn để xác định các mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng được tăng từ 1.318.000 đồng lên 1.417.000 đồng. Cụ thể, Nghị định số 70/2017/NĐ-CP quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng, mức phụ cấp, trợ cấp của một số đối tượng người có công như sau: Người hoạt động cách mạng trước ngày 1/1/1945 diện thoát ly mức trợ cấp 1.583.000 đồng/tháng, phụ cấp 268.000/1 thâm niên; diện không thoát ly mức trợ cấp 2.688.000 đồng/tháng. Trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân của người hoạt động cách mạng trước ngày 1/1/1945 từ trần 1.417.000 đồng/tháng.
Người hoạt động cách mạng từ ngày 1/1/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 được trợ cấp 1.465.000 đồng/tháng. Trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân của người hoạt động cách mạng từ ngày 1/1/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 từ trần là 795.000 đồng/tháng.
Trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân của 1 liệt sĩ là 1.417.000 đồng/tháng; trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân của 2 liệt sĩ là 2.834.000 đồng/tháng; đối với thân nhân của 3 liệt sĩ trở lên, mức trợ cấp là 4.251.000 đồng/tháng; trợ cấp tiền tuất đối với vợ hoặc chồng liệt sỹ lấy chồng hoặc lấy vợ khác (diện không hưởng thêm trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng) là 1.417.000 đồng/tháng.
Bà mẹ Việt Nam anh hùng (hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng theo mức trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân liệt sĩ như trên) được hưởng phụ cấp 1.188.000 đồng/tháng. Mức trợ cấp đối với người phục vụ Bà mẹ Việt Nam anh hùng sống ở gia đình là 1.417.000 đồng/tháng.
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động trong thời kỳ kháng chiến hưởng trợ cấp 1.188.000 đồng/tháng.
Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh được trợ cấp thương tật từ 955.000 đồng/tháng – 4.543.000 đồng/ tháng tùy tỷ lệ suy giảm khả năng lao động.
Thương binh loại B được trợ cấp thương tật từ 788.000 đồng/tháng đến 3.759.000 đồng/tháng tùy tỷ lệ suy giảm khả năng lao động
 
PHẦN II. VĂN BẢN ĐỊA PHƯƠNG
1. Quy định giá dịch vụ sử dụng diện tích bán hàng tại chợ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Ngày 12/5/2017, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định số 11/2017/QĐ-UBND về quy định giá dịch vụ sử dụng diện tích bán hàng tại chợ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Quyết định quy định về giá dịch vụ sử dụng diện tích bán hàng tại chợ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam được phân thành 03 hạng chợ (hạng I, II, III), chợ đô thị, chợ nông thôn, miền núi, hải đảo.
Theo đó, chợ đô thị là các chợ đóng trên địa bàn các phường thuộc thành phố Tam Kỳ, Hội An, thị xã Điện Bàn và thị trấn các huyện: Duy Xuyên, Đại Lộc, Thăng Bình, Quế Sơn và Núi Thành. Các chợ nông thôn, miền núi, hải đảo là các chợ đóng trên địa bàn các xã, thị trấn còn lại.
Quyết định quy định mức giá dịch vụ sử dụng diện tích bán hàng tại chợ do nhà nước đầu tư xây dựng cụ thể như sau:
- Giá dịch vụ sử dụng diện tích bán hàng tại chợ được tính trên các chi phí để trang trải và mang tính phục vụ đối với công tác hoạt động quản lý chợ, gồm các khoản chi phí sau:
+ Chi cho người lao động làm công tác quản lý chợ: chi tiền lương, tiền công, tiền ăn ca, các khoản phụ cấp lương, các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo quy định.
+ Chi cho các hoạt động tổ chức thu tiền dịch vụ sử dụng diện tích bán hàng tại chợ (kể cả hoạt động thu theo hợp đồng ủy nhiệm thu).
+ Chi quản lý hành chính: vật tư văn phòng, công cụ dụng cụ, điện, nước, thông tin liên lạc.
+ Chi phí nâng cấp, duy tu, sửa chữa thường xuyên cơ sở hạ tầng tại chợ.
+ Chi phí giữ gìn an ninh trật tự; công tác phòng cháy chữa cháy; công tác an toàn thực phẩm; công tác quy hoạch sắp xếp.
+ Chi nộp thuế theo quy định.
* Đối với các chợ hiện đang thực hiện thu tiền thuê, sử dụng địa điểm kinh doanh tại chợ theo hợp đồng sử dụng, thuê địa điểm kinh doanh chính là giá dịch vụ sử dụng diện tích bán hàng tại chợ.
* Giá dịch vụ sử dụng diện tích bán hàng tại chợ không bao gồm các khoản thu về dịch vụ vệ sinh; trông giữ phương tiện, hàng hóa; tiền điện, tiền nước và các khoản thu dịch vụ khác theo quy định của pháp luật.
Quyết định có hiệu lực kể từ ngày 01/6/2017.
2. Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2016 - 2020
Thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 04 tháng 11 năm 2016 của Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ Năm (khóa XXI) về tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng và tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016 - 2020; ngày 05/6/2017, tại Quyết định số 2002/QĐ-UBND, UBND tỉnh ban hành Chương trình hành động về tăng cường công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016 - 2020 với những nội dung chính như sau:
Chương trình hành động được ban hành nhằm nâng cao hiểu biết về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm trong việc quản lý, bảo vệ và khai thác, chế biến, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả, bền vững nguồn tài nguyên khoáng sản cho đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, lực lượng vũ trang (sau đây gọi tắt là CBCC), doanh nghiệp và nhân dân; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ cả trong nhận thức và hành động để cả hệ thống chính trị và cộng đồng dân cư cùng tham gia tích cực vào công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản, giám sát việc chấp hành pháp luật của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn; Các hành vi vi phạm của doanh nghiệp được cấp phép; thăm dò, khai thác khoáng sản (sau đây gọi tắt là KTKS) trái phép; bao che, tiếp tay hoặc cho phép thăm dò, KTKS, thuê đất, sử dụng đất để tập kết, kinh doanh khoáng sản không đúng quy định pháp luật đều được phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm, kịp thời; Đến năm 2018, 100% các nhà máy chế biến khoáng sản trên địa bàn sử dụng nguyên liệu có nguồn gốc hợp pháp; kiểm soát được sản lượng khoáng sản khai thác thực tế của các doanh nghiệp được cấp phép; thu đầy đủ, kịp thời các khoản thuế, phí, tiền thuê đất phát sinh từ hoạt động KTKS.
Quyết định có hiệu lực kể từ ngày 05/6/2017.
3. Xử lý nghiêm gia súc chăn, thả không đúng nơi quy định
Ngày 23/6/2017, UBND thành phố Tam Kỳ ban hành Quyết định số 8229/QĐ-UBND về Quy chế phối hợp xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi chăn, thả gia súc không đúng nơi quy định, theo đó:
Đối tượng áp dụng là: Công an thành phố, Đội Quy tắc đô thị và các cơ quan, đơn vị thuộc UBND thành phố Tam Kỳ; UBND 13 xã, phường; Công an xã, phường, Tổ trật tự đô thị xã, phường, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Quyết định quy định Chủ tịch UBND xã, phường bố trí địa điểm để tạm giữ tang vật vi phạm hành chính, trường hợp không bố trí được thì phối hợp với Đội Quy tắc đô thị thành phố chuẩn bị phương tiện hỗ trợ di chuyển tang vật vi phạm hành chính về Vườn ươm Tam Thăng do Ban Quản lý các công trình công cộng thành phố Tam Kỳ quản lý để tạm giữ.
Khi phát hiện chăn, thả gia súc không đúng nơi quy định (Thả rông động vật nuôi trong thành phố hoặc nơi công cộng; chăn, thả gia súc trong công viên, vườn hoa; điều khiển, dẫn dắt súc vật đi không đúng phần đường quy định, đi vào đường cấm, khu vực cấm, đi vào phần đường của xe cơ giới; để súc vật đi trên đường bộ không bảo đảm an toàn cho người và phương tiện đang tham gia giao thông; chăn dắt súc vật ở mái đường; buộc súc vật vào hàng cây hai bên đường hoặc vào cọc tiêu, biển báo, rào chắn, các công trình phụ trợ của giao thông đường bộ; thả trâu, bò, gia súc trong phạm vi bảo vệ công trình đường sắt, hành lang an toàn giao thông đường sắt) thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm báo ngay cho UBND, Công an, Tổ trật tự đô thị xã, phường nơi xảy ra vi phạm hoặc Đội Quy tắc đô thị, Công an thành phố để xử lý theo quy định. UBND, Công an, Tổ trật tự đô thị xã, phường, Đội Quy tắc đô thị, Công an thành phố có trách nhiệm tiếp nhận và xử lý kịp thời mọi thông tin về hành vi chăn, thả gia súc không đúng nơi quy định.
PHẦN II
ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ   VỀ CÁC QUYỀN DÂN SỰ VÀ CHÍNH TRỊ
(Tiếp theo tập san số 01/2017)
...
2.1.3. Quyền của người thiểu số
Điều 27 Công ước quy định về quyền của người thiểu số thuộc các nhóm thiểu số về sắc tộc, ngôn ngữ hay tôn giáo. Quy định nêu rõ: “Ở những nước có nhiều nhóm dân tộc thiểu số, tôn giáo và ngôn ngữ, thì những cá nhân thuộc các dân tộc, tôn giáo và ngôn ngữ thiểu số đó, cùng với những thành viên khác của cộng đồng mình, không thể bị tước bỏ quyền có đời sống văn hoá riêng, hoặc quyền sử dụng tiếng nói riêng”.
Theo Bình luận chung số 23, Ủy ban Nhân quyền giải thích rằng Điều 27 công nhận quyền của các nhóm thiểu số mà đang “hiện diện” ở một quốc gia. Xét bản chất và phạm vi các quyền trong điều này thì thuật ngữ “hiện diện” là không phù hợp đối với các cá nhân thuộc các nhóm thiểu số. Những quyền này hiểu một cách đơn giản là việc các cá nhân thuộc các nhóm thiểu số không bị loại trừ quyền hưởng thụ, một mình hoặc cùng với các thành viên khác của cộng đồng họ, nền văn hóa của riêng họ, thực hành tôn giáo và nói ngôn ngữ của cộng đồng họ. Không thể phủ định quyền trong cộng đồng với các thành viên của nhóm, họ được hưởng nền văn hóa riêng, sinh hoạt tôn giáo và nói ngôn ngữ của mình. Không nhất thiết họ phải là công dân của quốc gia đó và họ cũng không cần phải đăng ký thường trú. Vì vậy, những người lao động nhập cư vào làm việc hay thậm chí những khách du lịch tạo nên nhóm người thiểu số trong một quốc gia cũng được hưởng các quyền theo Điều 27. Ngoài ra, như bất cứ cá nhân nào khác trong lãnh thổ của một quốc gia, những thành viên của các nhóm thiểu số cũng được hưởng các quyền áp dụng chung cho mọi người, ví dụ như quyền tự do lập hội, tự do hội họp và tự do ngôn luận. Sự tồn tại của một nhóm thiểu số về dân tộc, tôn giáo hay ngôn ngữ trong một quốc gia thành viên nào đó không phụ thuộc vào một quyết định của quốc gia đó mà phụ thuộc vào các yếu tố khách quan.
1.1.                  Các quyền dân sự
Công ước công nhận các nhóm quyền dân sự như sau:
2.2.1. Quyền sống
Quyền sống được quy định tại Điều 3 UDHR, các Điều 3, 4, 5, 7 của Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng năm 1948 (CPPCG), Điều 6 của ICCPR năm 1966 và Điều 1 Công ước về không áp dụng thời hiệu tố tụng đối với tội ác chiến tranh và tội ác chống lại nhân loại năm 1968.
Theo quy định tại Điều 6 ICCPR, "Mọi người đều có quyền cố hữu là được sống. Quyền này phải được pháp luật bảo vệ. Không ai có thể bị tước mạng sống một cách tuỳ tiện". Nội dung Điều 6 có một số điểm lưu ý sau:
- Quyền sống là “quyền cơ bản của con người mà trong bất cứ hoàn cảnh nào, kể cả trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia, cũng không thể bị vi phạm...”.
- Quyền sống không nên hiểu theo nghĩa hẹp chỉ là sự toàn vẹn về tính mạng. Hơn thế, quyền này bao gồm cả những khía cạnh nhằm bảo đảm sự tồn tại của con người. Theo cách tiếp cận này, việc bảo đảm quyền sống còn đòi hỏi các quốc gia phải thực thi những biện pháp để làm giảm tỉ lệ chết ở trẻ em và tăng tuổi thọ bình quân của người dân, cụ thể như các biện pháp nhằm xóa bỏ tình trạng suy dinh dưỡng và các dịch bệnh... tức là bao gồm cả các biện pháp thụ động và chủ động.
- Một trong các nguy cơ phổ biến đe dọa quyền sống là chiến tranh và các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng như diệt chủng hay tội phạm chống nhân loại. Vì vậy, việc chống chiến tranh và các tội phạm này cũng là sự bảo đảm quyền sống.
- Các quốc gia thành viên cần tiến hành các biện pháp phòng chống và trừng trị việc tuỳ tiện tước đoạt tính mạng con người do bất kỳ chủ thể nào gây ra. Liên quan đến vấn đề này, việc bắt cóc người và đưa đi mất tích cũng bị coi là một trong những hình thức tước đoạt quyền sống, do đó, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ đưa ra những giải pháp hiệu quả để phòng chống và điều tra các vụ việc về bắt cóc, mất tích của cá nhân.
- Về hình phạt tử hình và quyền sống, mặc dù ICPPR không bắt buộc các quốc gia thành viên phải xóa bỏ hình phạt này, tuy nhiên, các quốc gia có nghĩa vụ phải hạn chế sử dụng nó, cụ thể là chỉ được áp dụng hình phạt này với “những tội ác nghiêm trọng nhất”, căn cứ vào luật pháp hiện hành tại thời điểm tội phạm được thực hiện và việc giới hạn áp dụng hình phạt này cũng được coi là một hình thức bảo đảm quyền sống.
- Người bị kết án tử hình đều có quyền xin ân giảm hoặc xin thay đổi mức hình phạt. Việc ân xá, ân giảm hoặc chuyển đổi hình phạt tử hình có thể được áp dụng đối với mọi  trường hợp.
- Không được phép tuyên án tử hình với người phạm tội dưới 18 tuổi và không được thi hành án tử hình đối với phụ nữ đang mang thai.
Như vậy, việc ghi nhận quyền sống không đồng nghĩa với việc sẽ xóa bỏ hình phạt tử hình. ICCPR nêu rõ một giới hạn đó là, ở những nước mà hình phạt tử hình chưa được xoá bỏ thì chỉ được phép áp dụng hình phạt này với những tội ác nghiêm trọng nhất.
Trong Bình luận chung số 6, Ủy ban Nhân quyền thấy rằng quyền sống được đề cập ở ngay đoạn đầu của Điều 6 Công ước là quyền tối cao không được phép ngừng áp dụng kể cả trong trường hợp khẩn cấp.
2.2.2. Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm
Điều 1 của UDHR tuyên bố "Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi con người đều được tạo hoá ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau trong tình bằng hữu". Điều 3 của UDHR năm 1948 khẳng định: "Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân". Tiếp theo đó, Điều 5 của UDHR khẳng định "Không ai bị tra tấn hay bị đối xử, xử phạt một cách tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm". Tinh thần này tiếp tục được khẳng định tại các Điều 7 và 17 của ICCPR, theo đó, không ai bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín. Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những xâm phạm. ICCPR đặt ra các nghĩa vụ chính đối với các quốc gia thành viên, cụ thể là:
- Một là, các quốc gia cần ghi nhận và có quy định nhằm bảo đảm không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc bị áp dụng hình phạt một cách tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc nhục hình. Đặc biệt, không một người nào có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà không có sự đồng ý tự nguyện của người đó.
- Hai là, những người bị tước đoạt tự do phải được đối xử nhân đạo và với sự tôn trọng nhân phẩm và tự do vốn có của con người.
- Ba là, trừ những hoàn cảnh đặc biệt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo phải được giam giữ riêng, cách ly khỏi những người đã thành án và phải được đối xử theo chế độ riêng phù hợp với quy chế đối với người bị tạm giam.
- Bốn là, các quốc gia cần có những quy chế pháp lý dành riêng cho người chưa thành niên để bảo đảm việc giam giữ được tách riêng khỏi người lớn và phải được đối xử phù hợp lứa tuổi của họ cũng như phải được đưa ra xét xử càng nhanh càng tốt.
Có thể thấy, đây là những chuẩn mực mà Công ước đặt ra cho các quốc gia thành viên để bảo vệ nhóm quyền không bị tra tấn, được đối xử nhân đạo, không bị giam giữ độc đoán, tra tấn, nhục hình. Các nước thành viên Công ước, dựa trên các nguyên tắc nền này và tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, xã hội và văn hóa của nước mình có thể đưa ra những quy định riêng nhưng không được trái với các nguyên tắc cơ bản đã được quy định trong Công ước.
Như vậy, quyền được bảo vệ khỏi bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người là một trong số ít các quyền tuyệt đối trong ICCPR. Theo đó các quốc gia không thể đặt ra bất kỳ giới hạn nào đối với quyền này. Trong mọi hoàn cảnh, không thể tạm đình chỉ áp dụng quyền này.
Theo Bình luận chung số 20, Ủy ban Nhân quyền ghi nhận mục đích của Điều 7 Công ước là bảo vệ hai yếu tố: Phẩm giá và sự toàn vẹn về thể chất và tinh thần của cá nhân. Các quốc gia thành viên có trách nhiệm thông qua các biện pháp lập pháp và các biện pháp khác nếu cần thiết để bảo vệ mọi người chống lại những hành động bị nghiêm cấm trong Điều 7, bất kể những hành động đó do những người có tư cách chính thức hay không chính thức thực hiện, hoặc do những người thực hiện vì động cơ cá nhân. Việc nghiêm cấm trong Điều 7 được bổ sung bởi quy định trong khoản 1 Điều 10 của Công ước, trong đó nêu rằng: “Tất cả những người bị tước quyền tự do phải được đối xử nhân đạo và được tôn trọng phẩm giá vốn có của một con người”. Sự ngăn cấm quy định ở Điều 7 không chỉ liên quan đến những hành động là nguyên nhân gây đau đớn về thể xác mà còn cả những hành động gây đau khổ về mặt tinh thần đối với nạn nhân.
2.2.3. Quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện, độc đoán
Quyền tự do thân thể, không bị bắt, giam giữ tùy tiện, trái pháp luật là một trong những quyền cơ bản nhất của con người, được nhân loại thừa nhận tại UDHR năm 1948: “Không ai bị bắt, giam giữ hay lưu đày một cách tùy tiện” (Điều 9). Quy định này được cụ thể và chi tiết hóa tại Điều 9 của ICCPR năm 1966:
1. Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân. Không ai bị bắt hoặc bị giam giữ vô cớ. Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền đó là có lý do và theo đúng những thủ tục mà luật pháp đã quy định.
2. Bất kỳ người nào bị bắt giữ đều phải được thông báo vào lúc bị bắt những lý do họ bị bắt và phải được thông báo không chậm trễ về sự buộc tội đối với họ.
3. Bất cứ người nào bị bắt hoặc bị giam giữ vì một tội hình sự phải được sớm đưa ra tòa án hoặc một cơ quan tài phán có thẩm quyền thực hiện chức năng tư pháp và phải được xét xử trong thời hạn hợp lý hoặc được trả tự do. Việc tạm giam một người trong thời gian chờ xét xử không được đưa thành nguyên tắc chung, nhưng việc trả tự do cho họ có thể kèm theo những điều kiện để bảo đảm họ sẽ có mặt tại tòa án để xét xử vào bất kỳ khi nào và thi hành án nếu có tội.
4. Bất cứ người nào do bị bắt hoặc giam giữ mà bị tước tự do đều có quyền yêu cầu được xét xử trước tòa án, nhằm mục đích để tòa án đó có thể quy định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ và ra lệnh trả lại tự do cho họ, nếu việc giam giữ là bất hợp pháp.
5. Bất cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam giữ bất hợp pháp đều có quyền được yêu cầu bồi thường.
Để giải thích thêm cho các quy định tại Điều 9 của ICCPR, Bình luận chung số 8 nhấn mạnh một số điểm như sau:
Thứ nhất, khoản 1 Điều 9 áp dụng đối với mọi đối tượng bị tước tự do, bao gồm cả người bị giữ, giam vì hành vi phạm tội, do tâm thần, nghiện ma túy hay phục vụ mục đích giáo dục, kiểm soát nhập cư.
Thứ hai, thời hạn tạm giữ, tạm giam theo quy định tại khoản 3 Điều 9 phụ thuộc vào pháp luật của các quốc gia thành viên, tuy nhiên theo Ủy ban nhân quyền, thời hạn tạm giữ không quá vài ngày, còn thời hạn tạm giam cần bảo đảm hai nguyên tắc, một là, bị can, bị cáo phải được xét xử trong một thời gian hợp lý hoặc được trả tự do và hai là, việc tạm giam chỉ được coi là ngoại lệ và với thời gian càng ngắn càng tốt.
Thứ ba, nếu biện pháp tạm giữ, tạm giam được sử dụng với tính chất là biện pháp ngăn chặn, thì việc giam, giữ này phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định và phải bảo đảm quyền được thông tin cho bị can, quyền được tòa án quyết định tính hợp pháp của việc giam giữ, quyền được yêu cầu bồi thường của bị can, bị cáo trong trường hợp oan sai. Trong trường hợp sau đó có lời buộc tội được đưa ra thì việc giam giữ phải bảo đảm tuân thủ các thủ tục tố tụng luật định.
Cho phép việc bắt giữ, giam người chỉ trong những trường hợp, điều kiện, trình tự thủ luật định và việc áp dụng các chế tài tước tự do đối với người phạm tội là cần thiết nhằm bảo đảm hiệu quả phòng, chống tội phạm, duy trì trật tự xã hội, bảo vệ lợi ích xã hội, quyền và lợi ích của cá nhân, đồng thời tăng cường giáo dục người phạm tội. Tuy nhiên, các quốc gia thành viên cũng phải bảo đảm có sự phân biệt giữa các hành vi phạm tội với việc không hoàn thành các nghĩa vụ phát sinh trong các lĩnh vực của cuộc sống như dân sự, lao động, kinh tế... Nhằm hạn chế việc bắt, giam giữ người tùy tiện và những trong những trường hợp không cần thiết, Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng không ai bị bỏ tù chỉ vì lý do không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng (Điều 11). Rõ ràng rằng, việc vi phạm hợp đồng cần được xem xét để xử lý theo quy định của pháp luật liên quan mà không xử lý trách nhiệm hình sự.
Ngoài ra, Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay bị cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1988 theo Nghị quyết 43/173 cũng đưa ra một loạt các nguyên tắc trong việc bảo đảm quyền không bị bắt giam giữ trái phép, cụ thể như sau:
Nguyên tắc số 4 quy định bất kỳ hình thức giam hay cầm tù nào và tất cả các biện pháp ảnh hưởng đến quyền con người của một người đang bị cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào phải được ra lệnh bởi hoặc chịu sự kiểm soát có hiệu quả của cơ quan xét xử hoặc cơ quan có thẩm quyền khác.
Cũng theo Tập hợp này thì bất kỳ người nào bị bắt giữ đều phải được thông báo ngay khi bị bắt giữ về lý do của việc bắt giữ và phải được thông báo ngay về bất kỳ lời buộc tội nào đối với họ (Nguyên tắc số 10).
Theo Nguyên tắc số 11 thì một người sẽ không bị giam nếu không được tạo cơ hội thoả đáng để được xét xử ngay bởi một cơ quan xét xử hay cơ quan có thẩm quyền khác. Đồng thời, người bị giam có quyền tự bào chữa hoặc được luật sư giúp đỡ theo quy định của pháp luật, người bị giam cùng luật sư của họ phải được cung cấp đầy đủ và kịp thời các thông tin về bất kỳ lệnh giam nào cùng với các lý do giam giữ. Các thông tin bao gồm: lý do bắt giữ, thời hạn giam giữ, danh tính của những quan chức thi hành pháp luật có liên quan, thông tin chính xác về nơi giam giữ.
2.2.4. Quyền tự do không bị buộc làm nô lệ hay nô dịch
Điều 8 ICCPR cụ thể hóa quy định tại Điều 4 UDHR, theo đó không ai bị bắt làm nô lệ; mọi hình thức nô lệ và buôn bán nô lệ đều bị cấm (khoản 1); không ai bị bắt làm nô dịch (khoản 2); không ai bị yêu cầu phải lao động bắt buộc hoặc cưỡng bức (khoản 3). Điều 8 cũng có những quy định loại trừ, nhưng phải được áp dụng một cách bình đẳng, không phân biệt đối xử với bất kỳ chủ thể nào, phải phù hợp với các quy định khác của Công ước.
Có thể thấy rằng đây là những chuẩn mực mà Công ước đặt ra cho các quốc gia thành viên để bảo vệ nhóm quyền không bị nô lệ, lao động khổ sai hay lao động cưỡng bức. Các nước thành viên Công ước, dựa trên những nguyên tắc nền này và tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, xã hội và văn hóa của nước mình có thể đưa ra những quy định riêng nhưng không được trái với các nguyên tắc cơ bản đã được quy định tại Điều 8 Công ước.
                                                                     (Còn nữa)                  
Nguồn: Theo Bộ Tư pháp
 
PHẦN III
TIN NỔI BẬT VỀ HOẠT ĐỘNG PHỔ BIẾN
PHÁP LUẬT TRONG QUÝ II/2017
1. Thành phố Tam Kỳ tập huấn nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở
Trong quý 2/2017, Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ đã phối hợp với UBND xã Tam Ngọc, xã Tam Phú, phường An Sơn, phường An Xuân tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở cho đội ngũ hòa giải viên của các địa phương nói trên.
Hội nghị được nghe báo cáo viên của phòng Tư pháp thành phố truyền đạt những nội dung chính của Luật Hòa giải cơ sở năm 2013, Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/2/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải cơ sở; hướng dẫn việc lập dự toán quản lý sử dụng và thủ tục quyết toán kinh phí nguồn ngân sách nhà nước thực hiện công tác hòa giải cơ sở theo Nghị quyết sô 169/2015/NQ-HĐND ngày 7/7/2015 của HĐND tỉnh Quảng Nam về quy định mức thu chi thực hiện công tác hòa giải cơ sở trên địa bàn tỉnh; mẫu biên bản; hướng dẫn cách ghi biểu mẫu vào sổ theo dõi hoạt động hòa giải cho các hòa giải viên... Đặc biệt, hội nghị được báo cáo viên hướng dẫn thực hiện thủ tục yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ở cơ sở theo công văn 1503/BTP-PBGDPL ngày 05/5/2017 của Bộ Tư pháp, theo đó, một bên hoặc cả hai bên đương sự có thể làm đơn yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ở cơ sở để tòa án ra Quyết định công nhận. Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành ở cơ sở của Tòa án có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Dịp này, các hòa giải viên cũng đã thực hành kỹ năng hòa giải các vụ việc cụ thể tại các địa phương, thông qua thực hành giúp các hòa giải viên hiểu rõ và nắm vững kỹ năng hòa giải các vụ việc, đồng thời học hỏi chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau.
Đây là hội nghị có ý nghĩ quan trọng, góp phần đáp ứng yêu cầu nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật và nghiệp vụ hòa giải cho người làm công tác hòa giải ở cơ sở, góp phần quan trọng vào việc giữ gìn tình làng nghĩa xóm, phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái giúp đỡ nhau trong cộng đồng dân cư, phòng ngừa và hạn chế vi phạm pháp luật, ổn định trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thành phố./.
Thúy Sương
2. Tam Kỳ tổ chức Ngày hội tư vấn thủ tục hành chính
Trong quý 2/2017, Phòng Tư pháp thành phố phối hợp với Thành đoàn, UBND xã Tam Thăng, Tam Thanh, Tam Ngọc và các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức Ngày hội tư vấn thủ tục hành chính cho nhân dân xã Tam Thăng, trên tất cả các lĩnh vực, trong đó tập trung vào thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ tịch, hộ khẩu, cấp giấy chứng minh nhân dân, chứng thực hợp đồng giao dịch, cấp giấy phép xây dựng, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, chế độ chính sách đối với người có công, gia đình liệt sỹ...
Tại các buổi tư vấn, các tổ chức, cá nhân đã được đại diện Công an thành phố, Bảo hiểm xã hội thành phố, Phòng Quản lý đô thị, Phòng Tư pháp, Phòng Tài nguyên và môi trường, Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của thành phố trực tiếp tư vấn, hướng dẫn quy trình các bước khi thực hiện thủ tục hành chính. Một số vướng mắc liên quan đến pháp luật cũng được cán bộ các cơ quan, đơn vị giải đáp cụ thể.
Ngày hội Tư vấn thủ tục hành chính được bà con nhân dân hào hứng đón nhận. Với sự phối hợp tham gia của nhiều cơ quan đơn vị, những vướng mắc của người dân sẽ được hỗ trợ, tư vấn, giải đáp cụ thể, cặn kẽ. Được biết, trong 6 tháng đầu năm 2017, Phòng Tư pháp và Thành đoàn thành phố đã phối hợp tổ chức được 04 ngày hội tư vấn thủ tục hành chính tại UBND các xã.
Thúy Sương
3. Kết quả thi trực tuyến tìm hiểu pháp luật đợt 1/2017 (15/3/2017-30/6/2017)
1. Tập thể UBND phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ: Giải tập thể;
2. Thi tìm hiểu Luật Trẻ em
2.1. Nguyễn Thị Mộng Điệp – Phường Phước Hòa, thành phố Tam Kỳ: Giải nhất;
2.2. Đoàn Quang Khải – Cán bộ Đài TT-TH TP Tam Kỳ: Giải nhì;
2.3. Nguyễn Văn Mẫn – Công chức Văn phòng - Thống kê phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ: Giải ba;
2.4. Nguyễn Thị Châu – Cán bộ Hưu trí, khối phố Phương Hòa Nam, phường Hòa Thuận, thành phố Tam Kỳ: Giải khuyến khích;
2.5. Nguyễn Hữu Thiện – Giáo viên trường THCS Lý Tự Trọng, thành phố Tam Kỳ: Giải khuyến khích;
2.6. Nguyễn Thị Quỳnh Trân – Công chức UBND phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ: Giải khuyến khích.
3. Thi hiểu về thừa kế trong Bộ Luật Dân sự năm 2015 và Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường
3.1. Đặng Ngọc Hải – Công chức Tư pháp - Hộ tịch phường An Sơn: Giải nhất;
3.2. Phạm Nguyễn Hồng Châu – Bí thư Đoàn phường Tân Thạnh, TP Tam Kỳ: Giải nhì;
3.3. Cao Thị Thùy Linh – Cán bộ UBND phường An Sơn, TP Tam Kỳ: Giải ba;
3.4. Trần Phương – Đoàn viên Đoàn phường Tân Thạnh TP Tam Kỳ: Giải khuyến khích;
3.5. Nguyễn Văn Sinh – Công chức Tư pháp - Hộ tịch phường An Sơn, TP Tam Kỳ: Giải khuyến khích;
3.6. Nguyễn Thị Châu – Cán bộ Hưu trí, phường Hòa Thuận TP Tam Kỳ: Giải khuyến khích.
 
PHẦN IV
CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT
***
CON ĐI TÙ BÁN ĐẤT CÓ PHẢI HỎI Ý KIẾN?
Phân vai:                                  
Tú: con trai
Tuấn: ông bố (cán bộ tư pháp xã về hưu)
Thiện: bà mẹ
Giang: người mua đất
Hảo: chồng Giang
Cảnh 1: Bà Thiện đang lúi húi dọn vườn. Thấy có tiếng xe máy rồ rồ chạy vào cổng nhà mình. Chưa kịp nhận ra ai đã nghe tiếng oang oang của bà Giang
Giang: Nhà Thiện đâu, nhà Thiện đâu rồi.
Thiện: Ai đấy. Bác Giang à. Em đang dọn cái vườn, vào ngay đây. Bác vào nhà chơi.
Giang: Đây không có thời gian chơi. Nhà mày là lũ lật lọng.
Thiện: ơ kìa bác, có chuyện gì mà bác nói nặng nhà em thế.
Giang: con mày kiện tao ra tòa mà còn nói không có chuyện gì à.
Thiện: Thằng Tú con em á.Chết nỗi em có biết gì đâu. Nó làm gì mà lại kiện bác.
Giang: Nó kiện đòi mảnh đất nhà cô bán cho nhà tôi. Nói hợp đồng vô hiệu, vì nó không đồng ý bán. Này nhá, đừng có hòng lừa tôi. Nó là con có quyền gì mà cô chú phải hỏi ý kiến nó?
Thiện: Nhà em không biết gì thật. Bác phải tin em. Hồi bán đất cho nhà bác nó đang đi tù mà. Cái thằng nó không thương cha thương mẹ gì cả. Ôi ông Tuấn ơi, ông về ngay cho tôi.
Nghe tiếng gọi não nề của bà vợ, ông Tuấn lật đật chạy từ nhà chú em về.
Tuấn: có chuyện gì thế hả. Làm gì mà như cháy nhà thế hả. ơ, chị Giang mới sang chơi.
Giang hất hàm không thèm đáp
Nghe bà vợ kể chuyện mà ông Tuấn tái mặt.
Tuấn: Chị Giang, đúng là chúng tôi không biết chuyện này thật. Chúng tôi đã bán cho chị rồi thì không bao giờ có chuyện đòi lại. Từ ngày ở tù về, nó có ở nhà mấy đâu. Chỉ khi xin tiền mới về thôi.
Thiện: như sực nhớ ra điều gì: đúng rồi tuần trước nó hỏi tôi tiền bán đất, tôi bảo đã lo bồi thường thiệt hại cho người nó đánh bị thương rồi. Nếu không nó còn ở tù lâu hơn. Nó cứ lầu bầu bán rẻ thế.
Giang: Tôi không biết anh chị có biết việc kiện tụng này không. Nhưng anh chị phải có trách nhiệm bảo con anh chị. Đã mua đứt bán đoạn rồi thì không có chuyện đòi lại đâu.
Nói rồi bà Giang đùng đùng ra về.
Còn lại hai vợ chồng già. Cứ nhìn nhau thở dài, chả thiết gì ăn uống. Sinh được mụn con trai, chiều chuộng đâm hư, thích phá làng phá xóm, phá cả gia đình.
Mảnh đất ấy ông bà mua là để làm của để dành cho nó sau này. Hồi mua nó mới được 2 tuổi. Lúc nó 4 tuổi thì làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông để cấp cho hộ gia đình. Gia đình khó khăn mấy ông cũng cố giữ mảnh đất ấy cho nó. Vậy mà nó lại đánh nhau với người ta gây thương tích nặng. Nó đi tù, tiền vay người ta bồi thường thiệt hại đến hạn phải trả. Cực chẳng đã ông bà mới phải bán mảnh đất ấy đi. Biết là bán rẻ nhưng đang cần tiền gấp nên có người mua cho là được rồi.
Cảnh 2: ở Nhà bà Giang:
Giang: chắc vợ chồng nhà ấy không biết gì thật, kiện cáo là thằng con thôi.
Hảo: Ừ. Nhưng nếu nó đòi được thì sao. Đất ấy là đất cấp cho hộ gia đình. Nếu bán thì phải được mọi người trong gia đình từ mười năm tuổi trở lên đồng ý đấy. Hồi mình mua, thằng Tú cũng được 18 tuổi rồi còn gì.
Giang: Nó ở trong tù, làm gì có quyền gì mà đồng ý với không đồng ý. Đất ấy em hỏi rồi, cấp cho hộ gia đình thật nhưng là của ông Tuấn bà Thiện mua chứ có phải thằng Tú mua đâu. Không phải hỏi ý kiến nó.
Hảo: Thì ra tòa xem thế nào. Nhưng đừng làm căng với thằng Tú. Cái bọn đi tù về rồi là đầu gấu lắm.
Giang: Chắc muốn đòi lại vì giá đất giờ đang lên chứ gì. Làm gì dễ thế.
Cảnh 3: Ở nhà bà Thiện:
Tuấn: Tú, mày kiện đòi đất nhà bà Giang là sao? Rút đơn kiện ngay đi.
Tú: Bố ơi, giao dịch mua bán đất đấy là vô hiệu. Đất ấy cấp cho hộ gia đình, khi bán đất bố mẹ không hỏi ý kiến con thì là không hợp pháp. Mà con kiện đòi được nhà mình cũng có lợi cơ mà. Đất ấy đang lên giá, có người hỏi mua rồi. Đòi được cái là sang tên bán ngay.
Tuấn: mày làm thế là thất đức con ơi. Cũng vì mày mà tao phải bán mảnh đất ấy. Giờ mày lại lôi người ta ra tòa. Tao còn mặt mũi nào nữa.
Tú: Bố mẹ nghĩ đi đâu ấy, cứ đúng luật mà làm thôi. Con có lừa đảo gì ai đâu. Luật nó quy định thế.
Tuấn: Mày lôi cả bố, mẹ mày ra tòa mấy lượt thể hả con.
Thiện: Ừ, bố mẹ mày khi không cũng bị gọi ra tòa đây này. Vì là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuấn: Nó đứng tên kiện thì nó là nguyên đơn. Người bị kiện bà Giang thì là bị đơn.Tôi với bà là người có quyền, nghĩa vụ liên quan vì vụ việc này có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của tôi với bà.[1] Tôi và bà là người bán đất cho bà Giang mà.
Thiện: Mày rút đơn đi, bố mẹ đỡ phiền, cũng không ngại với người ta.
Tú: Con không rút. Con đi đây, ở nhà cũng không được yên
Thiện: Ơ cái thằng này.
Tuấn: Kệ nó,cái thằng ngang bướng.
Thiện: Thế tôi với ông phải ra tòa à. Thế mình phải làm gì. Cứ nói đến tòa là tôingại lắm, mình có biết ăn nói gì đâu mà lại mất thời gian nữa.
Tuấn: Chả ai thích ra tòa cả những sự việc nó đã đến nước này thì phải ra tòa thôi.
Thiện : Ra đấy thì mình phải nói gì?
Tuấn: Bà bình tĩnh, hồi thằng Tú đi tù, phải bồi thường thiệt hại ấy, bà không nhờ vợ chồng mình có mua mấy quyển luật về đọc à. Mà ngày xưa tôi đi làm cán bộ tư pháp xã, cũng đọc nhiều sách, tư vấn nhiều vướng mắc pháp luật cho bà con đấy, bà đừng thấy “bụt chùa nhà không thiêng” nhé.
Thiện: Vâng, ông giỏi, ai dám chê ông. Ông đọc cho tôi xem nào.
Tuấn: vấn đề của mình là lĩnh vực dân sự, vậy ra tòa sẽ liên quan đến Bộ luật tố tụng Dân sự. Ông Tuấn vừa nói, vừa lật trang của cuốn Bộ luật TTDS. Đây rồi, Điều 73 quy định về quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà nghe nhé
1. Tôn trọng Tòa án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa.
2. Nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí và chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
3. Cung cấp đầy đủ, chính xác địa chỉ nơi cư trú, trụ sở của mình; trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc nếu có thay đổi địa chỉ nơi cư trú, trụ sở thì phải thông báo kịp thời cho đương sự khác và Tòa án.
4. Giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu theo quy định.
5. Cung cấp tài liệu, chứng cứ; chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
6. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình.
7. Đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ việc mà tự mình không thể thực hiện được; đề nghị Tòa án yêu cầu đương sự khác xuất trình tài liệu, chứng cứ mà họ đang giữ; đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, quyết định việc định giá tài sản.
8. Được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập, trừ tài liệu, chứng cứ  có liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính đáng của đương sự nhưng phải thông báo cho đương sự biết những tài liệu, chứng cứ không được công khai.
9. Có nghĩa vụ gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ, trừ tài liệu, chứng cứ mà đương sự khác đã có, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính đáng của đương sự nhưng phải thông báo cho đương sự biết những tài liệu, chứng cứ không được công khai.
Trường hợp vì lý do chính đáng không thể sao chụp, gửi đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ thì họ có quyền yêu cầu Tòa án hỗ trợ.
10. Đề nghị Tòa án quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.
11. Tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hòa giải do Tòa án tiến hành.
12. Nhận thông báo hợp lệ để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.
13. Tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.
14. Yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quy định.
15. Tham gia phiên tòa, phiên họp theo quy.
16. Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và chấp hành quyết định của Tòa án trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc.
17. Đề nghị Tòa án đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng.
18. Đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ việc theo quy định.
19. Đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liên quan đến vụ án hoặc đề xuất với Tòa án những vấn đề cần hỏi người khác; được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng.
20. Tranh luận tại phiên tòa, đưa ra lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng.
21. Được cấp trích lục bản án, bản án, quyết định của Tòa án.
22. Kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của Tòa án theo quy định
23. Đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
24. Chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
25. Sử dụng quyền của đương sự một cách thiện chí, không được lạm dụng để gây cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án, đương sự khác; trường hợp không thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu hậu quả do Bộ luật này quy định.
26. Quyền, nghĩa vụ khác mà pháp luật có quy định.
Thiện: Nhiều quyền và nghĩa vụ thế ai mà nhớ hết.
Tuấn: bà không nhớ thì tòa vẫn đọc và hướng dẫn cho mình.
Tuấn:  tuy nhiên, theo quy định thì  bà và tôi có quyền thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện; rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện [2] của thằng Tú. Mình ra tòa thì cũng đúng pháp luật họ xử thôi..
Thời gian sau vụ án được đưa ra xét xử.
Theo đó, tòa án cho rằng, quyền sử dụng đất là cấp cho hộ ông Tuấn.  Thời điểm đó, anh Tú là thành viên trong hộ ông Tuấn.  Giao dịch liên quan đến tài sản lớn của hộ phải được các thành viên từ 18 tuổi trở lên đồng ý. Anh Tú tại thời điểm giao dịch đó chưa được lấy ý kiến và đồng ý cho giao dịch đó nên giao dịch vô hiệu. (Căn cứ khoản 2, Điều 212, Bộ luật dân sự năm 2015:  Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức thỏa thuận. Trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác).
Dù Tú đi tù nhưng vẫn có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nên vẫn cần có ý kiến của Tú khi mua bán đất.
  Nguồn: moj.gov.vn
                                                                                                                      
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Tin mới





















 

Thăm dò ý kiến

Đánh giá thái độ phục vụ của công chức Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ

Thoải mái, dễ chịu, vui vẻ

Hướng dẫn tận tình, chu đáo

Hướng dẫn thờ ơ, qua loa

Ý kiến khác

Phóng sự giao trả hồ sơ tận nhà trên lĩnh vực Hộ tịch