Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng nhì

UBND xã  Tam Ngọc dẫn đầu phong trào thi đua năm 2017

UBND phường Hòa Thuận dẫn đầu phong trào thi đua Quý 2 năm 2018





















 

:::Thống kê:::

  • Đang truy cập: 30
  • Khách viếng thăm: 28
  • Máy chủ tìm kiếm: 2
  • Hôm nay: 8090
  • Tháng hiện tại: 212648
  • Tổng lượt truy cập: 11062702

Bản tin Tư pháp quý 3/2016

Đăng lúc: Thứ hai - 07/11/2016 08:34 - Người đăng bài viết: Tuphaptamky
CLICK VAO DAY DE THI TIM HIEU PHAP LUAT - GIẢI THƯỞNG 6 TRIỆU ĐỒNG/ĐỢT
​LỜI NÓI ĐẦU Thời gian qua, công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật trên địa bàn thành phố đã triển khai thường xuyên, đồng bộ từ thành phố đến xã phường, thôn khối phố bằng nhiều hình thức khác nhau. Nhằm đa dạng hóa công tác phổ biến giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này đối với cán bộ và nhân dân.

Để công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật được thường xuyên, có hiệu quả, UBND thành phố đã chỉ đạo HĐPH biên soạn tài liệu tuyên truyền để phục vụ cho công tác phổ biến giáo dục pháp luật cho cán bộ và nhân dân.
Việc biên soạn tài liệu này, chúng tôi tham khảo nhiều tập san khác nhau ở trong và ngoài tỉnh. Tuy nhiên để phù hợp với cán bộ công chức, viên chức, người lao động, đoàn viên, hội viên các đoàn thể và nhân dân trên địa bàn thành phố. Chúng tôi rất mong được nhận sự góp ý để tài liệu này thực sự cần thiết và hữu ích cho các phòng ban, ngành đoàn thể và địa phương.
Mọi góp ý xin gửi về địa chỉ:
Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ
70 Hùng Vương Tam Kỳ Quảng Nam
Điện thoại: 0510.3851.772
Website: Http://tuphaptamky.gov.vn
 Email: tuphaptamky@yahoo.com.vn

PHẦN I
VĂN BẢN CHÍNH SÁCH MỚI
--------------
I. VĂN BẢN TRUNG ƯƠNG
1. Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có hiệu lực
Nhiều trường hợp được miễn thuế, cụ thể:
Từ 01/9/2016, miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu, vật tư trong nước chưa sản xuất được trong 5 năm cho doanh nghiệp công nghệ.
Miễn thuế xuất khẩu, nhập khẩu cho các trường hợp: giống cây trồng; giống vật nuôi; phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trong nước chưa sản xuất được, cần thiết nhập khẩu; Máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật tư, linh kiện, bộ phận, phụ tùng nhập khẩu phục vụ hoạt động in, đúc tiền…
Cũng từ 1-9, thuế suất thông thường sẽ bằng 150% thuế suất ưu đãi của từng mặt hàng tương ứng, thay vì 70% như trước. Không ấn định thời hạn nộp thuế đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu như trước (30 ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan với hàng hóa xuất khẩu; trước khi nhận hàng hoặc 275 ngày đối với hàng hóa nhập khẩu); thay vào đó, thời hạn nộp thuế xuất khẩu, nhập khẩu là trước khi thông quan hoặc giải phóng hàng hóa.
Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2016.
2. Pháp lệnh Quản lý thị trường có hiệu lực
Theo Pháp lệnh Quản lý thị trường số 11/2016/UBTVQH13, công chức quản lý thị trường không được lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, đòi, nhận tiền, tài sản của người vi phạm; dung túng, bao che, hạn chế quyền của người vi phạm hành chính khi xử phạt vi phạm hành chính hoặc có thái độ, cử chỉ, phát ngôn không đúng quy định đối với tổ chức, cá nhân trong khi thi hành công vụ.
Cũng theo Pháp lệnh này, công chức quản lý thị trường đã được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và không trong thời gian bị kỷ luật sẽ được cấp thẻ kiểm tra thị trường; thẻ có thời hạn sử dụng 05 năm kể từ ngày được cấp.
Trường hợp có hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động công vụ mà chưa có quyết định xử lý; tham mưu, ban hành quyết định trái pháp luật; đang trong thời gian bị tạm đình chỉ công tác để xem xét xử lý kỷ luật; bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách hoặc cảnh cáo; bị khởi tố, tạm giữ, tạm giam…, công chức sẽ bị tạm đình chỉ sử dụng thẻ kiểm tra thị trường.
Pháp lệnh này có hiệu lực từ ngày 01/09/20/16.
3. Quyết định đặc xá năm 2016
Chủ tịch nước Trần Đại Quang vừa ký quyết định 2230/2016/QĐ-CTN ngày 17/10/2016 về việc đặc xá năm 2016.
Theo đó, Quyết định gồm 7 điều, quy định rõ về thời gian đã chấp hành án phạt tù để xét đặc xá; đối tượng đặc xá; điều kiện được đề nghị đặc xá; các trường hợp không đề nghị đặc xá; đặc xá trong trường hợp đặc biệt...
Cụ thể, đối tượng đặc xá bao gồm: Người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đang chấp hành án phạt tù tại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện.
Người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đang chấp hành án phạt tù được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau đây:
Đã chấp hành án phạt tù ít nhất là một phần hai thời gian đối với án phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù; đã chấp hành án phạt tù ít nhất là mười lăm năm đối với án phạt tù chung thân, nếu sau khi đã được giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù;
Chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; tích cực học tập, lao động; trong quá trình chấp hành án phạt tù liên tục được xếp loại cải tạo từ loại khá trở lên; khi được đặc xá không làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, tiền truy thu, án phí hoặc nghĩa vụ dân sự khác, trừ những phạm nhân không bị kết án phạt tù về các tội phạm về tham nhũng đã 70 tuổi trở lên hoặc từ 60 tuổi trở lên nhưng thường xuyên ốm đau hoặc người đang mắc bệnh hiểm nghèo mà bản thân người đó và gia đình không còn khả năng thực hiện.
Người bị kết án phạt tù có thời hạn đã chấp hành ít nhất là một phần ba thời gian và người bị kết án phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đã chấp hành ít nhất là mười ba năm, nếu có đủ các điều kiện khác quy định ở điểm b, c khoản 1 Điều này, thì được đề nghị đặc xá khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Đã lập công lớn trong thời gian chấp hành án phạt tù, có xác nhận của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện;
Là thương binh; bệnh binh; người có thành tích trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội được tặng thưởng một trong các danh hiệu: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động, Nhà giáo nhân dân, Thầy thuốc nhân dân, Nghệ sỹ nhân dân, các danh hiệu Dũng sỹ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; người được tặng thưởng một trong các loại Huân chương, Huy chương kháng chiến; người có thân nhân là liệt sỹ; con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng; con của Gia đình có công với nước;
Khi phạm tội là người chưa thành niên;  Là người từ 70 tuổi trở lên; Là người đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc từ 60 tuổi trở lên mà thường xuyên ốm đau, không tự phục vụ bản thân được, có kết luận giám định y khoa hoặc xác nhận bằng văn bản của cơ quan y tế có thẩm quyền; Có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và bản thân là lao động duy nhất trong gia đình, có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú; Nữ phạm nhân đang có thai hoặc có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi đang ở với mẹ trong trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ.
Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký.
4. Khai sai thuế, tự phát hiện vẫn bị xử phạt
Có hiệu lực từ 1/8, Nghị định 45/2016/NĐ-CP của Chính phủ nêu rõ người nộp thuế không khai hoặc khai sai về tên hàng, chủng loại, số lượng, khối lượng, chất lượng, trị giá, mã số hàng hóa, thuế suất, mức thuế, xuất xứ hàng hóa trong quá trình làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nhưng đã tự phát hiện và khai bổ sung hồ sơ khai thuế trước thời điểm thông quan hàng hóa vẫn sẽ bị phạt 10% số tiền thuế khai thiếu.
Nghị định cũng cho phép phạt từ 1 đến 3 triệu đồng với người xuất cảnh không khai hoặc khai sai số ngoại tệ, đồng Việt Nam bằng tiền mặt, vàng mang theo vượt mức quy định khi xuất cảnh tương đương 5-30 triệu đồng. Theo quy định cũ, chỉ khi mang theo tiền, vàng vượt mức quy định 10-30 triệu đồng mới bị áp dụng mức phạt này.
5. Tăng lương hưu, trợ cấp hàng tháng
Nghị định 55/2016/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn một số nội dung về lương hưu, trợ cấp đối với cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động; quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu; cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng lương hưu và trợ cấp hằng tháng, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-8 quy định.
Điều chỉnh tăng 8% mức lương hưu, trợ cấp hàng tháng cho nhóm đối tượng nghỉ hưu trong giai đoạn từ 1/1/2015 đến 30/4/2016.
Thời điểm điều chỉnh mức lương, trợ cấp tăng thêm tính từ tháng bắt đầu hưởng lương hưu, trợ cấp hàng tháng. Trường hợp đã được điều chỉnh tăng 8% trước đó thì vẫn giữ nguyên mức hưởng.
Người lao động có đủ điều kiện về thời gian đóng BHXH khi nghỉ hưu từ 1/5/2016 trở đi, lương hưu được tính trên mức lương cơ sở mới 1.210.000 đồng/tháng.
Ngoài ra, đồng loạt nâng mức lương hưu, trợ cấp mất sức lao động đối với những đối tượng được hưởng thấp hơn 2.000.000 đồng/người/tháng.
6. Nguyên tắc quản lý, sử dụng phí
Ngày 23/08/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 120/2016/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phí và lệ phí.
Theo quy định tại Nghị định này, phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan Nhà nước thực hiện phải nộp vào ngân sách Nhà nước; trường hợp cơ quan Nhà nước được khoán chi phí hoạt động từ nguồn thu phí thì được khấu trừ theo tỷ lệ quy định, phần còn lại nộp ngân sách Nhà nước.
Với số thu từ phí, lệ phí năm 2016, tổ chức thu phí, lệ phí thực hiện quyết toán theo quy định của Pháp lệnh Phí và lệ phí và quy định của pháp luật về quản lý thuế; sau khi quyết toán, số tiền phí, lệ phí được trích để lại chưa chi trong năm được chuyển sang năm sau để tiếp tục chi theo chế độ quy định; từ ngày 01/01/2018, số tiền lệ phí còn dư phải nộp toàn bộ vào ngân sách Nhà nước.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017.
7. Sửa đổi quy định về cai nghiện bắt buộc
Từ 30-10, đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc gồm:
- Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, trong thời hạn hai năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy hoặc trong thời hạn một năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện;
- Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, bị chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy.
- Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú ổn định.
Nghị định số 136/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, có hiệu lực thi hành từ ngày 30-10-2016.
8. Trợ cấp một lần đối với người có thành tích tham gia kháng chiến
Theo Quyết định 24/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, những người có thành tích tham gia kháng chiến được tặng bằng khen của Thủ tướng; bằng khen của cấp bộ, cấp tỉnh sẽ được hưởng trợ cấp một lần theo mức sau:
Người được tặng Bằng khen của Thủ tướng là 1.815.000 đồng; người được tặng Bằng khen của cấp bộ, cấp tỉnh là 1.210.000 đồng.
Người có bằng khen đã từ trần mà chưa được hưởng trợ cấp một lần này thì đại diện thân nhân được hưởng trợ cấp theo mức như trên.
9. Tăng trợ cấp với thanh niên xung phong
Mức trợ cấp đối với thanh niên xung phong sẽ được điều chỉnh tăng từ 360.000 đồng/tháng lên 540.000 đồng/tháng, áp dụng từ ngày 1-1-2016.
Ngoài ra, thanh niên xung phong từ trần kể từ ngày 1-1-2016 nhưng chưa được điều chỉnh trợ cấp như trên thì người tổ chức mai táng sẽ được truy lĩnh khoản tiền chênh lệch do điều chỉnh trợ cấp kể từ ngày 1-1-2016 đến tháng thanh niên xung phong từ trần (số tiền chênh lệch mỗi tháng là 180.000 đồng).
Quyết định 29/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh chế độ trợ cấp hàng tháng đối với thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến, có hiệu lực từ ngày 20-8 quy định.
10. Cách tính lương mới đối với cán bộ, công chức
Việc tính lương, phụ cấp sẽ dựa trên mức lương cơ sở mới là 1.210.000 đồng/tháng từ 1/5/2016.
Đối với cán bộ, công chức có hệ số lương từ 2,34 trở xuống đã được hưởng tiền lương tăng thêm quy định tại Nghị định 17/2015/NĐ-CP sẽ được thực hiện như sau:
Nếu tổng tiền lương và các khoản phụ cấp lương tính theo mức lương cơ sở 1.210.000 đồng/tháng của tháng 5/2016 thấp hơn tiền lương và các khoản phụ cấp lương cộng với tiền lương tăng thêm theo Nghị định 17 tính theo mức lương cơ sở 1.150.000 đồng/tháng của tháng 4/2016 thì được hưởng chênh lệch cho bằng tổng tiền lương đã hưởng của tháng 4/2016. Mức hưởng chênh lệch này không dùng để tính đóng BHXH, BHYT, BHTN và các loại phụ cấp lương.
Thông tư 05/2016/TT-BNV hướng dẫn thực hiện mức lương cơ sở đối với đối tượng hưởng lương, phụ cấp trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, bãi bỏ Thông tư 07/2013/TT-BNV và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-8 quy định.
11. Nhân viên thú y xã phải có bằng trung cấp trở lên
Từ 19-9, nhân viên thú y xã phải có trình độ trung cấp trở lên một trong các chuyên ngành về thú y, chăn nuôi thú y, chăn nuôi, bệnh học thủy sản, nuôi trồng thủy sản (trường hợp ở địa bàn có cấp xã thuộc khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, chỉ cần có trình độ sơ cấp trở lên).
Nhân viên thú y xã phải hiểu biết, nắm bắt và đánh giá được tình hình phát triển chăn nuôi động vật, nuôi trồng thủy sản trên địa bàn quản lý; có kiến thức nhận biết dịch bệnh động vật trên địa bàn quản lý; có năng lực tham mưu, tổ chức, thực hiện công tác thú y; có kỹ năng tuyên truyền, vận động quần chúng thực hiện quy định pháp luật về thú y…
Thông tư 29/2016/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc quy định tiêu chuẩn đối với nhân viên thú y xã, phường, thị trấn, có hiệu lực thi hành từ ngày 19-9 quy định.
12. Chế độ nghỉ phép đặc biệt đối với quân nhân
Thông tư 113/2016/TT-BQP quy định chế độ nghỉ của quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng có hiệu lực từ ngày 08/10/2016.
Theo đó, ngoài chế độ nghỉ phép hằng năm, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng được nghỉ phép đặc biệt không quá 10 ngày trong những trường hợp sau:
- Kết hôn; con đẻ, con nuôi hợp pháp kết hôn.
- Bố, mẹ đẻ; bố, mẹ vợ; bố, mẹ chồng; người nuôi dưỡng hợp pháp của bản thân, của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi hợp pháp chết hoặc đau ốm nặng, tai nạn phải điều trị dài ngày tại các cơ sở y tế.
- Gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra.
13. Hỗ trợ chi phí cho NLĐ đi làm việc ở nước ngoài
Theo Thông tư liên tịch 09/2016/TTLT-BLĐTBXH-BTC thực hiện hỗ trợ đưa người lao động (NLĐ) đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng có hiệu lực từ ngày 01/8/2016, mức hỗ trợ chi phí đào tạo nghề, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cho NLĐ như sau:
Đào tạo nghề: theo chi phí thực tế và mức tối đa quy định tại Quyết định 46/2015/QĐ-TTg;
Đào tạo ngoại ngữ: theo mức cụ thể từng khóa học, thời gian học thực tế và tối đa 3 triệu đồng/người/khóa học;
Bồi dưỡng kiến thức cần thiết: theo chi phí thực tế và tối đa 530.000 đồng/người/khóa học;
Tiền ăn trong thời gian đào tạo: 40.000 đồng/người/ngày;
Chi phí đi lại cho người lao động từ nơi cư trú hợp pháp đến địa điểm đào tạo theo quy định tại Thông tư liên tịch này.
14. Biểu phí đường bộ mới tại trạm thu phí Tam Kỳ, Quảng Nam
Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 126/2016/TT-BTC sửa đổi Thông tư số 168/2015/TT-BTC ngày 06/11/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí sử dụng đường bộ trạm thu phí Tam Kỳ, quốc lộ 1, tỉnh Quảng Nam.
            Theo đó, Thông tư số 126/2016/TT-BTC đã sửa đổi Biểu mức thu phí sử dụng đường bộ trạm thu phí Tam Kỳ, quốc lộ 1, tỉnh Quảng Nam ban hành kèm theo Thông tư số 168/2015/TT-BTC ngày 06/11/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí sử dụng đường bộ trạm thu phí Tam Kỳ, quốc lộ 1, tỉnh Quảng Nam.
 
TT Phương tiện chịu phí
sử dụng đường bộ
Mệnh giá (đồng/vé)
Vé lượt Vé tháng Vé quý
1 Xe dưới 12 ghế ngồi, xe tải có tải trọng dưới 2 tấn; các loại xe buýt vận tải khách công cộng 35.000 1.050.000 2.835.000
2 Xe từ 12 ghế đến 30 ghế; xe tải có tải trọng từ 2 tấn đến dưới 4 tấn 50.000 1.500.000 4.050.000
3 Xe từ 31 ghế ngồi trở lên; xe tải có tải trọng từ 4 tấn đến dưới 10 tấn 75.000 2.250.000 6.075.000
4 Xe tải có tải trọng từ 10 tấn đến dưới 18 tấn; xe chở hàng bằng Container 20 fit 120.000 3.600.000 9.720.000
5 Xe tải có tải trọng từ 18 tấn trở lên; xe chở hàng bằng Container 40 fit 180.000 5.400.000 14.580.000
 
 
Tải trọng của từng loại phương tiện áp dụng mệnh giá trên là tải trọng theo thiết kế (trọng tải hàng hoá), căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký xe do cơ quan có thẩm quyền cấp.
Đối với việc áp dụng mức thu phí đối với xe chở hàng bằng Container (bao gồm cả đầu kéo moóc chuyên dùng) thì áp dụng mức thu theo trọng lượng toàn bộ của xe, không phân biệt có chở hàng hay không chở hàng.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2016./.
II. VĂN BẢN ĐỊA PHƯƠNG
1. Nghị quyết 12/2016/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Quảng Nam Về cơ chế hỗ trợ đào tạo lao động cho chương trình, dự án trọng điểm và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2016-2020
Theo Nghị quyết, tổng nguồn vốn đầu tư  hỗ trợ đào tạo lao động cho chương trình, dự án trọng điểm và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh là trên 154 tỷ đồng.
Các đối tượng áp dụng là người học nghề trong độ tuổi lao động, có nhu cầu tham gia các khoá đào tạo trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 03 tháng để làm việc cho chương trình, dự án trọng điểm và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh; các doanh nghiệp cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, các hợp tác xã, tổ hợp tác, các chương trình, dự án trên địa bàn tỉnh có nhu cầu tuyển dụng lao động qua đào tạo hoặc tự đào tạo lao động làm việc tại đơn vị; các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, các trường cao đẳng, trung cấp có tham gia dạy nghề, các trung tâm dạy nghề, các cơ sở có tham gia dạy nghề trên địa bàn tỉnh.
Điều kiện để được hỗ trợ đối với người học là phải có đơn đăng ký học nghề gửi tới cơ sở dạy nghề, đảm bảo thời gian học đầy đủ theo chương trình đào tạo, chấp hành làm việc ổn định tối thiểu 06 tháng tại doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh sau khi hoàn thành khoá học. Doanh nghiệp được hỗ trợ khi có trụ sở đóng trên địa bàn tỉnh, có ký kết hợp đồng đặt hàng sử dụng lao động qua đào tạo với cơ sở dạy nghề, có ký kết hợp đồng đặt hàng sử dụng lao động qua đào tạo với cơ sở dạy nghề, thực hiện tiếp nhận lao động sau đào tạo làm việc ổn định tối thiểu 06 tháng, trường hợp doanh nghiệp tự tổ chức đào tạo lao động để tiếp nhận làm việc phải được cơ quan chuyên môn kiểm tra và có văn bản kết luận về điều kiện tổ chức đào tạo.
Đối tượng là người học nghề theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết này, được ngân sách tỉnh hỗ trợ như sau: 1) Hỗ trợ chi phí đào tạo tối đa 2.000.000 đồng/người/ngày thực học đối với người học là nam có hộ khẩu thường trú tại khu vực đô thị; 2) Hỗ trợ tiền ăn trong thời gian đào tạo 20.000 đồng\người\ngày thực học đối với người học là lao động nữ, lao động nông thôn, lao động nam ở đô thị, 30.000 đồng\người\ngày đối với người lao động là dân tộc thiểu số phải ở lại nội trú hoặc thuê nhà; 3) Hỗ trợ tiền đi lại trong thời gian đào tạo 150.000 đồng\người\khoá học đối với người học là lao động nữ, lao động nông thôn, lao động nam ở đô thị có nơi cư trú ở xa địa điểm đào tạo từ 15km trở lên; 4) Hỗ trợ tiền mua đồ dùng cá nhân 200.000 đồng\người\khoá học, tiền thuê nhà 300.000 đồng\người\tháng đối với lao động là dân tộc thiểu số phải thuê nhà ở lại trong thời gian học; 5) Hỗ trợ tiền thuê nhà 300.000 đồng\người\tháng trong hai năm đầu làm việc tại doanh nghiệp sau khi đào tạo đối với lao động là người dân tộc thiểu số. Trường hợp đối tượng học nghề thuộc đối tượng quy định tại Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg ngày 28/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ được ngân sách tỉnh hỗ trợ chi phí đào tạo, tiền ăn, tiền đi lại.
Nghị quyết chính thức có hiệu lực từ ngày 29/7/2016.
2. Mức thu học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2016 - 2017 đến năm học 2020 - 2021 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Ngày 19/7/2016, HĐND tỉnh Quảng Nam ban hành Nghị quyết số 13/2016/NQ-HĐND về mức thu học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2016 - 2017 đến năm học 2020 - 2021 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Theo đó:
Nguyên tắc xác định học phí
1. Đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông
a) Mức thu học phí phải phù hợp với điều kiện kinh tế của từng địa bàn dân cư, khả năng đóng góp thực tế của người dân và tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng hàng năm.
b) Quy định về khu vực
Khu vực thành thị: bao gồm các phường thuộc thành phố Tam Kỳ, thành phố Hội An và thị xã Điện Bàn; các khối phố thuộc thị trấn của các huyện đồng bằng.
Khu vực nông thôn: bao gồm các xã thuộc thành phố Tam Kỳ, thành phố Hội An, thị xã Điện Bàn và các huyện đồng bằng; các khối phố thuộc thị trấn của các huyện miền núi.
Khu vực miền núi, hải đảo: bao gồm các thôn, xã miền núi và hải đảo theo quy định của Chính phủ.
c) Cơ sở giáo dục ngoài công lập được tự quyết định mức học phí.
d) Các cơ sở giáo dục phải thông báo công khai mức học phí cho từng năm học đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, cho từng năm học cùng với dự kiến cho cả khóa học đối với giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp.
2. Đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp
Học phí của các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư theo quy định của Chính phủ được xác định trên cơ sở định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức chi phí do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và lộ trình tính đủ chi phí đào tạo. Học phí của các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp công lập chưa tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư theo quy định của Chính phủ được xác định trên cơ sở tính toán có sự cân đối giữa hỗ trợ của Nhà nước và đóng góp của người học, thực hiện theo lộ trình giảm dần bao cấp của Nhà nước.
Mức thu học phí đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông 
1. Đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông công lập:
                                                                                       ĐVT: đồng/học sinh/tháng
TT Cấp học Thành thị Nông thôn Miền núi
1 Mầm non 105.000 45.000 20.000
2 Trung học cơ sở 60.000 30.000 15.000
3 Trung học phổ thông 105.000 65.000 20.000
2. Đối với các cơ sở giáo dục thường xuyên được áp dụng mức thu học phí tương đương với mức học phí của các trường phổ thông công lập cùng cấp học trên địa bàn.
Mức thu học phí đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp
1. Đối tượng thuộc chỉ tiêu ngân sách nhà nước cấp kinh phí đào tạo
a) Mức thu học phí theo các nhóm ngành đào tạo chuyên nghiệp (đại học, cao đẳng, trung cấp):
ĐVT: 1.000đồng/học sinh, sinh viên/tháng
TT Tên ngành Năm học
2016-2017
Năm học
2017-2018
Năm học
2018-2019
Trung
cấp
Cao đẳng Đại học Trung
Cấp
Cao đẳng Đại học Trung
cấp
Cao đẳng Đại học
1 Khoa học xã hội, kinh tế, luật; nông, lâm, thủy sản 350 410 500 390 440 560 430 490 610
2 Khoa học tự nhiên; kỹ thuật, công nghệ; thể dục thể thao, nghệ thuật; khách sạn, du lịch 410 470 590 460 530 650 500 580 720
3 Y dược 510 590   560 650   620 710  
 
TT Tên ngành Năm học
2019-2020
Năm học
2020-2021
Trung cấp Cao đẳng Đại
học
Trung cấp Cao đẳng Đại
học
1 Khoa học xã hội, kinh tế, luật; nông, lâm, thủy sản 470 530 670 520 590 740
2 Khoa học tự nhiên; kỹ thuật, công nghệ; thể dục thể thao, nghệ thuật; khách sạn, du lịch 560 640 800 620 710 880
3 Y dược 680 780   750 860  
 
b) Mức thu học phí đối với các cơ sở đào tạo cao đẳng và trung cấp nghề:
ĐVT: 1.000đồng/học sinh, sinh viên/tháng
 
TT
Tên ngành Năm học
2016-2017
Năm học
2017-2018
Năm học
2018-2019
Năm học
2019-2020
Năm học
2020-2021
Trung cấp Cao đẳng Trung cấp Cao đẳng Trung cấp Cao đẳng Trung cấp Cao đẳng Trung cấp Cao đẳng
  Máy tính và công nghệ thông tin; công nghệ kỹ thuật và các ngành khác 290 330 460 530 500 580 560 640 620 710
2. Đối tượng không thuộc chỉ tiêu ngân sách nhà nước cấp kinh phí đào tạo
Đối với bậc học đại học, cao đẳng và trung cấp không thuộc chỉ tiêu ngân sách nhà nước cấp kinh phí đào tạo, mức thu không quá 50% so với mức tối đa học phí đối với các chương trình đào tạo trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp tại các cơ sở giáo dục công lập tự đảm bảo kinh phí chi thường xuyên và chi đầu tư của Nghị định 86/2015/NĐ-CP.
3. Học phí đào tạo theo tín chỉ
Mức thu học phí của 1 tín chỉ được xác định căn cứ vào tổng thu học phí của toàn khóa học theo nhóm ngành đào tạo và tổng số tín chỉ đó theo công thức:
Học phí tín chỉ, mô đun =         Tổng học phí toàn khóa
Tổng số tín chỉ, mô đun toàn khóa
Tổng học phí toàn khóa = mức thu học phí 01 sinh viên/01 tháng (mức học phí tương ứng nêu trên) x 10 tháng x số năm học.


3. Sửa đổi Quy chế phối hợp thực hiện cơ chế một cửa liên thông TTHC thuộc lĩnh vực hộ tịch, bảo hiểm y tế và đăng ký thường trú cho trẻ em dưới 6 tuổi; đăng ký khai tử và xóa đăng ký thường trú trên địa bàn thành phố Tam Kỳ
Ngày 13/9/2016, Chủ tịch UBND thành phố Tam Kỳ ký Quyết định ban hành quy chế phối hợp thực hiện cơ chế một cửa liên thông TTHC thuộc lĩnh vực hộ tịch, bảo hiểm y tế và đăng ký thường trú cho trẻ em dưới 6 tuổi; đăng ký khai tử và xóa đăng ký thường trú trên địa bàn thành phố Tam Kỳ.
Theo Quy chế giảm thời gian thực hiện quy trình liên thông thuộc lĩnh vực hộ tịch, bảo hiểm y tế và đăng ký thường trú cho trẻ em dưới 6 tuổi từ 07 ngày làm việc xuống còn 05 ngày làm việc.

PHẦN II
ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN
Những nội dung cơ bản của luật Tố tụng hành chính năm 2015
------------
(Tiếp theo tập san số 2)
15. Về thời gian giao nộp tài liệu, chứng cứ; xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ
- Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định về thời gian giao nộp chứng cứ: “Thời gian giao nộp tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ấn định nhưng không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm quy định tại Điều 130 của Luật này”; bổ sung quy định: Trường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ án thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ. Trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được tài liệu, chứng cứ và có yêu cầu hoặc xét thấy cần thiết, Tòa án có thể tự mình hoặc ủy thác tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ các tình tiết của vụ án (Điều 83). Đối với trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, đương sự mới giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Tòa án đã yêu cầu giao nộp trước đó thì đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ. Đối với tài liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự phải giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm (Điều 133).
- Ngoài việc sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể các biện pháp xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ, Luật TTHC năm 2015 còn bổ sung quy định về xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ trong giai đoạn giám đốc thẩm: “Trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, Thẩm tra viên có thể tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ quy định tại điểm a và điểm g khoản 2 Điều này. Khi Thẩm tra viên tiến hành biện pháp quy định tại điểm g khoản 2 Điều này, Tòa án phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án” (khoản 4 Điều 84).
16. Về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng
Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định mới về thủ tục cấp, tống đạt hoặc thông báo bằng phương tiện điện tử, theo đó “việc cấp, tống đạt hoặc thông báo bằng phương tiện điện tử được thực hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử”. Đây là phương thức mới và Quốc hội đã giao Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn để thi hành. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ mà Tòa án nhân dân tối cao phải thực hiện để triển khai thi hành Luật này.
17. Về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
- Để nâng cao trách nhiệm của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng hành chính, Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định về trách nhiệm của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thời hạn hoặc không áp dụng mà gây thiệt hại cho người có yêu cầu: “Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không có lý do chính đáng, gây thiệt hại cho người có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án phải bồi thường. Việc bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này được thực hiện theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước” (Điều 72).
- Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định các trường hợp Tòa án ra quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời: “Tòa án ra quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đề nghị hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng; b) Căn cứ của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không còn; c) Vụ án đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; d) Các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện theo quy định của Luật này; đ) Vụ án được đình chỉ theo quy định tại Điều 143 của Luật này” (khoản 2 Điều 74).
18. Về thời hiệu khởi kiện
Để khắc phục tình trạng người dân khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại nhưng người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại không giải quyết và không thông báo cho người khiếu nại dẫn đến nhiều trường hợp khi họ khởi kiện ra Tòa án thì thời hiệu khởi kiện đã hết vì thời hiệu tính từ ngày họ nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định: “Trường hợp đương sự khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật đến cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thời hiệu khởi kiện được quy định như sau: a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại lần hai; b) 01 năm kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền không giải quyết và không có văn bản trả lời cho người khiếu nại”.
19. Về giải quyết khiếu nại, kiến nghị quyết định trả lại đơn khởi kiện
Để bảo đảm tính minh bạch, tạo điều kiện cho đương sự được trình bày ý kiến của mình đối với việc trả lại đơn khởi kiện, Luật TTHC năm 2015 quy định việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị này phải được tiến hành bằng phiên họp:
“2. Ngay sau khi nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phải phân công một Thẩm phán xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị. Phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có khiếu nại. Trường hợp người khởi kiện, Kiểm sát viên vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp” (Điều 124).
20. Về tạm đình chỉ giải quyết vụ án
Luật TTHC năm 2015 bổ sung các trường hợp Tòa án quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án bao gồm:
- Cần đợi kết quả giám định bổ sung, giám định lại; cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án;
- Cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản đó.
21. Về yêu cầu đối với phiên tòa sơ thẩm
Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định về địa điểm tổ chức phiên tòa, hình thức bố trí phòng xử án, theo đó phiên tòa được tổ chức tại trụ sở Tòa án hoặc có thể ngoài trụ sở Tòa án nhưng phải bảo đảm tính trang nghiêm và hình thức bố trí phòng xử án là Quốc huy nước Cộng hoà XHCN Việt Nam được treo chính giữa phía trên phòng xử án và phía trên chỗ ngồi của Hội đồng xét xử; phòng xử án phải có các khu vực được bố trí riêng cho Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký phiên tòa, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, những người tham gia tố tụng khác và người tham dự phiên tòa (Điều 150 và Điều 151).
22. Về sự có mặt và phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm
Theo Luật TTHC năm 2010 thì trường hợp vắng mặt Kiểm sát viên tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Luật TTHC năm 2015 quy định trường hợp Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phân công có nhiệm vụ tham gia phiên tòa, nếu vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử (Điều 156).  Luật còn bổ sung quy định Kiểm sát viên được phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án và quy định ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án (Điều 190).
23. Về xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng
Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định về thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng như sau:
1. Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xét xử vắng mặt đương sự, người tham gia tố tụng theo quy định của Luật này khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Người khởi kiện, người đại diện hợp pháp của người khởi kiện có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; b) Người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện hợp pháp của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt; c) Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.
2. Chủ tọa phiên tòa công bố lý do đương sự vắng mặt hoặc đơn của đương sự đề nghị xét xử vắng mặt.
3. Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
4. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát.
5. Hội đồng xét xử tiến hành nghị án và tuyên án theo quy định của Luật này”.
24. Về tạm ngừng phiên tòa
Luật TTHC năm 2010 quy định trong trường hợp đặc biệt, việc xét xử có thể tạm ngừng nhưng không quá 05 ngày làm việc. Hết thời hạn tạm ngừng, việc xét xử vụ án được tiếp tục. Luật TTHC năm 2015 quy định cụ thể các căn cứ, thời hạn tạm ngừng phiên tòa như sau:
“1. Trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử có quyền tạm ngừng phiên tòa khi có một trong các căn cứ sau đây: a) Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tiến hành tố tụng không thể tiếp tục tiến hành phiên tòa, trừ trường hợp thay thế được người tiến hành tố tụng; b) Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa, trừ trường hợp người tham gia tố tụng có yêu cầu xét xử vắng mặt; c) Cần phải xác minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ mà không thực hiện thì không thể giải quyết được vụ án và không thể thực hiện được ngay tại phiên tòa; d) Cần phải báo cáo với Chánh án Tòa án có thẩm quyền để đề nghị, kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại Điều 111 của Luật này; đ) Các bên đương sự đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa để các bên đương sự tự đối thoại; e) Chờ kết quả giám định bổ sung, giám định lại quy định tại khoản 4 Điều 185 của Luật này.
2. Việc tạm ngừng phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa. Thời hạn tạm ngừng phiên tòa không được quá 30 ngày kể từ ngày Hội đồng xét xử quyết định tạm ngừng phiên tòa. Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành phiên tòa, nếu lý do để tạm ngừng phiên tòa không còn. Hết thời hạn này, nếu lý do tạm ngừng phiên tòa chưa được khắc phục, Hội đồng xét xử ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án và thông báo bằng văn bản cho những người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát cùng cấp về thời gian tiếp tục phiên tòa” (Điều 187).
25. Về nghị án
Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định về những vấn đề phải quyết định khi nghị án như sau:
“3. Khi nghị án, Hội đồng xét xử chỉ được căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật và nghiên cứu, áp dụng án lệ hành chính (nếu có) liên quan để quyết định về các vấn đề sau đây: a) Tính hợp pháp và có căn cứ về hình thức, nội dung của quyết định hành chính hoặc việc thực hiện hành vi hành chính bị khởi kiện; b) Tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính hoặc việc thực hiện hành vi hành chính; c) Thời hiệu, thời hạn ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính; d) Mối liên hệ giữa quyết định hành chính, hành vi hành chính với quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện và những người có liên quan; đ) Tính hợp pháp và có căn cứ của văn bản hành chính có liên quan (nếu có); e) Vấn đề bồi thường thiệt hại và vấn đề khác (nếu có) (khoản 3 Điều 191).
26. Về thẩm quyền của Hội đồng xét xử
Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định Hội đồng xét xử có quyền tuyên hủy quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan (nếu có) và  kiến nghị cách thức xử lý đối với quyết định hành chính trái pháp luật đã bị hủy (Điều 193).
27. Về bản án sơ thẩm
Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định:“Khi xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, Tòa án phải giải quyết vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy và ghi rõ trong bản án” (Điều 194).
28. Về tuyên án
Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định: “Hội đồng xét xử tuyên đọc bản án có mặt các đương sự. Trường hợp đương sự có mặt tại phiên tòa nhưng vắng mặt khi tuyên án hoặc vắng mặt theo quy định tại khoản 5 Điều 191 của Luật này thì Hội đồng xét xử vẫn tuyên đọc bản án. Trường hợp xét xử kín theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật này thì Hội đồng xét xử tuyên công khai phần mở đầu và phần quyết định của bản án” (Điều 195).
29. Về thời hạn kháng cáo
Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết. Đối với trường hợp đương sự đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo kể từ ngày tuyên án; bổ sung quy định về thời điểm tính thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm trong trường hợp quyết định được niêm yết công khai; về ngày kháng cáo đối với trường hợp người kháng cáo đang bị tạm giữ hoặc bị tạm giam (Điều 206).
30. Về kháng nghị của Viện kiểm sát
Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định về trường hợp Tòa án nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát khi đã quá thời hạn kháng nghị, theo đó khi Tòa án nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát mà quyết định kháng nghị đó đã quá thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu Viện kiểm sát giải thích bằng văn bản và nêu rõ lý do (khoản 3 Điều 213).
31. Về thời hạn gửi hồ sơ vụ án và kháng cáo, kháng nghị
Luật TTHC năm 2015 sửa đổi quy định về thời hạn gửi hồ sơ vụ án và kháng cáo, kháng nghị theo hướng: Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án, kháng cáo, kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị và hết thời hạn kháng cáo, người kháng cáo nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm (Điều 216).
32. Về thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm
Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định về thời hạn thông báo thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có) (Điều 217).
33. Về sự có mặt của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm
Luật TTHC năm 2015 quy định:“Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phân công có nhiệm vụ tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa khi Kiểm sát viên vắng mặt trong trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị” (Điều 224). Như vậy, đối với trường hợp Viện kiểm sát không có kháng nghị mà Kiểm sát viên vắng mặt tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
34. Về trường hợp người bị kiện sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, dừng, khắc phục hành vi hành chính bị khởi kiện trong giai đoạn phúc thẩm
Luật TTHC năm 2015 bổ sung quy định giải quyết đối với trường hợp trong giai đoạn phúc thẩm, người bị kiện sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, dừng, khắc phục hành vi hành chính bị khởi kiện:
“1. Trường hợp người bị kiện sửa đổi, hủy bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc dừng, khắc phục hành vi hành chính bị khởi kiện liên quan đến quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân và người khởi kiện đồng ý rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đồng ý rút yêu cầu thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án, quyết định sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án; trong quyết định của bản án phải ghi rõ cam kết của đương sự để bảo đảm thi hành án hành chính.
2. Trường hợp người bị kiện sửa đổi, hủy bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc dừng, khắc phục hành vi hành chính bị khởi kiện mà việc sửa đổi, hủy bỏ quyết định hành chính, dừng, khắc phục hành vi hành chính đó liên quan đến quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác và họ chưa được tham gia tố tụng tại cấp sơ thẩm thì:
a) Nếu người khởi kiện rút đơn khởi kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập rút yêu cầu thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án, quyết định sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Trường hợp này cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc sửa đổi, hủy bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc dừng, khắc phục hành vi hành chính bị khởi kiện có quyền khởi kiện vụ án hành chính theo thủ tục chung;
b) Nếu người khởi kiện không rút đơn khởi kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không rút yêu cầu thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án, quyết định sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại. Trường hợp này, Tòa án cấp sơ thẩm phải đưa cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc sửa đổi, hủy bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc dừng, khắc phục hành vi hành chính bị khởi kiện vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” (Điều 235).
(Còn tiếp)

PHẦN III
TIN NỔI BẬT VỀ HOẠT ĐỘNG PHỔ BIẾN
PHÁP LUẬT TRONG QUÝ III/2016
1. Phòng Tư pháp TP Tam Kỳ tổ chức giải bóng đá mini Nam và giao lưu văn nghệ chào mừng kỷ niệm 71 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam
Nhằm thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 71 năm ngày truyền thống ngành Tư Pháp Việt Nam (28/8/1945 – 28/8/2016), chào mừng kỷ niệm 110 năm Phủ lỵ Tam Kỳ (1906-2016), 10 năm thành lập thành phố (2006-2016), thành phố Tam Kỳ trở thành đô thị loại II trực thuộc tỉnh Quảng Nam và đón nhận Huân chương Độc lập hạng III; Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ tổ chức giải bóng đá mini Nam, giao lưu văn nghệ với Sở Tư pháp và phòng Tư pháp các huyện, thị xã, thành phố trong Cụm thi đua đồng bằng.
Tham dự giải bóng đá mini nam có 06 đội đến từ 10 đơn vị gồm: Đội Sở Tư pháp, đội Tư pháp Tam Kỳ, đội liên minh Tư pháp Điện Bàn - Hội An, đội liên minh Tư pháp Đại Lộc - Quế Sơn, đội liên minh Tư pháp Thăng Bình - Duy Xuyên, đội liên minh Tư pháp Núi Thành - Phú Ninh. Các trận đấu diễn ra với tinh thần hữu nghị nhưng không kém phần quyết tâm cao của các vận động viên, sự công tâm của tổ trọng tài và đặc biệt là sự cổ vũ nhiệt tình từ đông đảo cổ động viên đã góp phần tạo nên sự thành công tốt đẹp của giải.
Kết thúc giải, Ban Tổ chức giải đã trao giải Nhất cho liên minh Tư pháp Điện Bàn - Hội An, giải nhì thuộc về liên minh Tư pháp Thăng Bình - Duy Xuyên, đồng hạng ba thuộc về 02 đội: Sở Tư pháp và liên minh Tư pháp Đại Lộc - Quế Sơn. Ngoài ra, BTC còn trao giải "Vua phá lưới" cho cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất và giải "Thủ môn xuất sắc nhất" cho thủ môn của đội vô địch mùa giải.
Giải bóng đá mini Nam và giao lưu văn nghệ lần này là hoạt động mang ý nghĩa sâu sắc, tạo không khí sôi nổi, phấn khởi trong phong trào thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Ngành cũng như nhiệm vụ chính trị của từng địa phương năm 2016. Qua đó góp phần tăng cường sự đoàn kết, tinh thần giao lưu học hỏi kinh nghiệm của toàn thể cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp tỉnh Quảng Nam./.
Băng Nhi
2. Tam Kỳ triển khai các văn bản luật mới đến đoàn viên các công đoàn cơ sở
Sáng ngày 28/9/2016, Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ phối hợp với Liên đoàn lao động thành phố tổ chức Hội nghị triển khai các văn bản luật mới cho hơn 100 đại biểu đại diện cho BCH Công đoàn cơ sở; Chủ tịch, Phó Chủ tịch công đoàn 13 xã, phường; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Công đoàn các trường học trên địa bàn thành phố.
Tại hội nghị, các đại biểu tham dự được báo cáo viên phòng Tư pháp thành phố giới thiệu các nội dung: Bộ Luật Hình sự năm 2015; Bộ Luật Dân sự năm 2015; Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá; Nghị định 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường săt. Dịp này, các đại biểu tham dự cũng đã đưa ra các nội dung vướng mắc trên thực tế để hội nghị cùng nhau thảo luận, giải đáp.
Cuối hội nghị, BTC đã tiến hành làm bài thu hoạch dưới hình thức trắc nghiệm. Kết quả có 85% đại biểu đạt loại xuất sắc.
Đây là hội nghị có ý nghĩa quan trọng, là dịp để cán bộ, đoàn viên, công nhân viên chức lao động trên địa bàn thành phố nắm được các kiến thức pháp luật quan trọng để tự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình, từ đó góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm công dân, tinh thần cảnh giác, tích cực tham gia đấu tranh phòng chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh trật tự, xây dựng các khu dân cư, cơ quan, trường học, đơn vị an toàn./.
Thúy Sương
3. Công bố kết quả thi pháp luật trực tuyến
Đợt 3 (01/7/2016-30/9/2016)
STT Người/ đơn vị nhận Giải
01 UBND phường Tân Thạnh Giải tập thể
02 Trần Thanh Trà - Cán bộ UBND xã Tam Ngọc Giải nhất
03 Nguyễn Trà Đông - Đoàn viên đoàn phường Tân Thạnh Giải nhất
04 Tô Thanh Trà - khối phố Hương Chánh, Phường Hòa Hương Giải nhì
05 Nguyễn Thanh Yên - Chủ tịch UBND xã Tam Ngọc Giải nhì
06 Tô Ngọc Hạnh Nữ - Phó bí thư đoàn phường Hòa Hương Giải ba
07 Nguyễn Hữu Quỳnh Trang - Học sinh trường THCS Lý Tự Trọng Giải ba
08 Nguyễn Thanh Yên - Chủ tịch UBND xã Tam Ngọc Giải khuyến khích
09 Cao Thị Thùy Linh - Cán bộ UBND phường An Sơn, TP Tam Kỳ Giải khuyến khích
10 Phạm Nguyễn Hồng Châu - Đoàn phường Tân Thạnh Giải khuyến khích
11 Trần Đình Quốc - Đoàn viên đoàn phường Tân Thạnh Giải khuyến khích
12 Tô Thanh Trà - khối phố Hương Chánh, Phường Hòa Hương Giải khuyến khích
13 Tô Ngọc Hạnh Nữ - Phó bí thư đoàn phường Hòa Hương Giải khuyến khích
       
* Danh sách nhận quà từ Ban Tổ chức:
1. Nguyễn Anh Phương - UBND xã Kim Khê, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.
2. Bùi Thị Thúy An - Xóm 3, xã Văn Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
3. Nguyễn Mạnh Hùng - Xã Tam Anh Bắc, Huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.

PHẦN IV
CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT
***
Di chúc viết tay có hợp pháp?
Ông Hoàng có 2 người con, Nam - người con cả là con của ông với người vợ đầu, bà đã ra đi trong một vụ tai nạn khi Nam mới 3 tuổi, Lan là con của ông với bà vợ thứ hai – Bà Nguyệt. Từ nhỏ cháu Nam thường xuyên bị bà Nguyệt hắt hủi nên giữa hai người không thân thiết với nhau, ông Hoàng rất thương Nam nên tìm mọi cách để cải thiện tình cảm nhưng cũng không cải thiện được mối quan hệ mẹ kế - con chồng.
Năm Nam chuẩn bị nhập học vào trường đại học, ông Hoàng phát hiện mình bị ung thư phổi di căn đã ở giai đoạn cuối. Khi biết tin mình bị bệnh không sống được bao lâu nữa, điều ông lo lắng nhất chính là Nam, không biết sau này Nam sẽ nương tựa vào ai? còn việc học hành? ai lo lập gia đình cho nó? Bấy nhiêu câu hỏi cứ luẩn quẩn trong đầu ông. Hồi trẻ ông cũng chăm chỉ làm ăn nên cũng xây được một căn nhà khang trang và một số tài sản khác. Tiền và tài sản ông muốn để dành cho Nam 1 phần nhưng không biết là cách nào. Suy nghĩ mãi, rồi ông quyết định: mình phải để lại di chúc, tránh gây thêm mâu thuẫn về sau. Nghĩ là làm, ông đã mất 2 ngày để viết di chúc, tài sản của ông chỉ có căn nhà vợ chồng ông đang ở và một số tiền tài sản khác trị giá 750 triệu đồng. Ông muốn để lại nhà đất cho Nam vì vốn dĩ căn nhà này do ông và mẹ Nam tạo dựng nên, còn tiền thì Nam được hưởng 50 triệu để lo ăn học, phần còn lại 600 triệu để lại cho mẹ con bà Nguyệt.
Viết di chúc xong, ông Hoàng lại đắn đo: Liệu di chúc mình viết tay có giá trị pháp lý hay không? Nghĩ là làm, sáng hôm sau ông mang bản di chúc đến Uỷ ban nhân dân phường để hỏi về giá trị pháp lý của bản di chúc. Ông vào phòng Tư pháp - Hộ tịch. Ông bước vào phòng, trong phòng có 2 anh chị cán bộ trẻ, ông cất tiếng chào:
- Chào các cháu, bác có việc muốn nhờ các cháu.
Một chị đứng dậy, tiến về phía ông Hoàng nói:
- Chào bác, mời bác ngồi.
- Vâng, cháu là Tính, công chức Tư pháp- Hộ tịch, bác đến có việc gì ạ.
Ông Hoàng lấy bản di chúc từ trong cặp ra, đặt lên bàn:
- Tôi đã viết một bản di chúc để phân chia tài sản, nhưng tôi không biết bản di chúc viết tay thế này thì có giá trị pháp luật hay không?
Sau 1 hồi đọc bản di chúc, chị Tính liền hỏi:
- Bản di chúc này được lập hoàn toàn theo ý chí của bác? Có ai can thiệp về việc phân chia tài sản không ạ? Có người làm chứng không a?
Nghe vậy ông Hoàng trả lời:
- Không, không có ai biết gì cả. Tự tôi lập theo ý chí của cá nhân tôi cũng không có người làm chứng.
- Vâng, vậy thì về mặt hình thức thì bản di chúc của bác hoàn toàn có giá trị pháp lý đấy ạ. Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 thì di chức của bác thuộc trường hợp di chúc bằng văn bản không có người làm chứng
- Sao chỉ về mặt hình thức thôi à? Thế còn nội dung có hợp pháp không hả cháu?
- Về mặt nội dung của di chúc. Theo Điều 631 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau: Ngày, tháng, năm lập di chúc; Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;  Di sản để lại và nơi có di sản. Ngoài các nội dung trên di chúc có thể có các nội dung khác. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc. Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa. Trong di chúc này, bác chưa ghi rõ địa chỉ nhà đất ở đâu  và chưa đánh số trang của từng tờ di chúc nên bác cần bổ sung thêm .
Nhân đây cháu muốn hỏi bác vài điều nhằm đảm bảo tính hiệu lực pháp lý của di chúc. Số tài sản trong di chúc có phải thuộc quyền sở hữu của riêng bác không ạ. Cụ thể là về ngôi nhà và số tiền 750 triệu ạ.
- Về ngôi nhà thì do tôi và mẹ cháu Nam tạo dựng từ khi mới kết hôn, mẹ cháu không may qua đời khi cháu mới 3 tuổi, gia đình tôi vẫn sống ở đó đến nay. Còn số tiền này là của tôi và bà vợ hai bây giờ, chúng tôi tích cóp được sau 14 năm chung sống.
- Từ ngày mẹ em Nam mất, có ai đến đòi chia nhà đất không ạ?
- Không có ai.
- Vâng. Sở dĩ cháu hỏi bác như vậy vì liên quan đến các quy định pháp luật. Nhà và đất bác sử dụng ổn định, hợp pháp từ đó đến nay mà không có ai tranh chấp về quyền thừa kế thì thuộc quyền sử dụng, quyền sở hữu hợp pháp của bác nên bác có toàn quyền quyết định. Còn số tiền, tài sản khác trị giá 750 triệu đồng, vì đây là tài sản của bác và bác Nguyệt cùng làm ra nên theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì là tài sản chung vợ chồng đấy bác ạ, bác chỉ được định đoạt 1/2 số tài sản đó thôi.
- À, có quy định thế hả cháu. Thế tôi có thể sửa lại di chúc này không?
- Có chứ bác. Vì theo quy định tại Điều 640 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào. Bác cũng có thể công chứng bản di chúc tại Văn phòng công chứng hoặc ra Uỷ ban nhân dân phường để làm thủ tục chứng thực di chúc.
- Ừ, cám ơn cháu, bây giờ thì bác đã hiểu.
- Có gì chưa rõ, bác đến đây cháu giải thích cho.
Ông Hoàng đứng dậy: Ừ, thôi bác về nhé (và quay sang mọi người) Chào các cháu, các cháu làm việc nhé.
- Vâng, chào bác ạ
Ông Hoàng ra về, mà lòng thanh thản, nhẹ nhõm, những lo âu của ông đã có lời giải./.
Nguồn: moj.gov.vn
 
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Tin mới

















 

Thăm dò ý kiến

Đánh giá thái độ phục vụ của công chức Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ

Thoải mái, dễ chịu, vui vẻ

Hướng dẫn tận tình, chu đáo

Hướng dẫn thờ ơ, qua loa

Ý kiến khác

Phóng sự giao trả hồ sơ tận nhà trên lĩnh vực Hộ tịch