Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng nhì

UBND phường Hòa Thuận dẫn đầu phong trào thi đua  năm 2018

UBND phường Hòa Thuận dẫn đầu phong trào thi đua Quý 3 năm 2019





















 

:::Thống kê:::

  • Đang truy cập: 66
  • Khách viếng thăm: 63
  • Máy chủ tìm kiếm: 3
  • Hôm nay: 996
  • Tháng hiện tại: 195043
  • Tổng lượt truy cập: 15433916

Giao phương tiện vi phạm cho cá nhân, tổ chức giữ, bảo quản: Thiếu hướng dẫn, khó thực hiện

Đăng lúc: Thứ năm - 17/10/2019 12:53 - Người đăng bài viết: Tuphaptamky
Bi giảng tuyn truyền php luật
CLICK VAO DAY DE THI TIM HIEU PHAP LUAT - GIẢI THƯỞNG 6 TRIỆU ĐỒNG/ĐỢT
Giao phương tiện giao thông vi phạm hành chính cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản và đặt tiền bảo lãnh phương tiện giao thông bị tạm giữ theo thủ tục hành chính là những quy định được đánh giá là thuận tiện cho người dân và cơ quan quản lý. Vậy, vì sao những quy định này chưa phát huy được hiệu quả như mong muốn?
Giao phương tiện vi phạm cho cá nhân, tổ chức giữ, bảo quản: Thiếu hướng dẫn, khó thực hiện

Giao phương tiện vi phạm cho cá nhân, tổ chức giữ, bảo quản: Thiếu hướng dẫn, khó thực hiện

Chỉ có 1.403 phương tiện bàn giao

Điều 14, Nghị định 115/2013/NĐ - CP về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính quy định, quy định việc giao phương tiện giao thông vi phạm hành chính cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản chỉ được thực hiện khi “cá nhân vi phạm phải xuất trình sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú hoặc có giấy xác nhận của cơ quan, đơn vị về nơi công tác; nếu tổ chức vi phạm phải có địa chỉ hoạt động cụ thể, rõ ràng được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận; có nơi giữ, bảo quản phương tiện đáp ứng các điều kiện quy định”

Theo thống kê của Bộ Công an, từ năm 2013 đến nay, trên cả nước có 1.403 trường hợp giao phương tiện giao thông vi phạm cho cá nhân, tổ chức giữ, bảo quản. Các phương tiện giao thông giao cho tổ chức, cá nhân vi phạm bảo quản chủ yếu là các phương tiện đường thủy, phương tiện cồng kềnh, kích thước lớn, không có điều kiện di chuyển, bảo quản tại các kho, bãi của cơ quan chức năng. Như vậy, con số này rất khiêm tốn, nhất là khi so sánh với kỳ vọng của các nhà làm luật khi đề xuất thực hiện quy định này.

Kết quả tổng kết 6 năm thực hiện Nghị định 115/2013 cho thấy, nguyên nhân của tình trạng này phần lớn là do tổ chức, cá nhân vi phạm không bảo đảm được các điều kiện quy định để được giữ, bảo quản tang vật, phương tiện. Chẳng hạn, không xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú hoặc giấy xác nhận của cơ quan, đơn vị nơi công tác và cũng không có các tài liệu làm căn cứ bảo đảm rằng cá nhân, tổ chức vi phạm có nơi giữ, bảo quản tang vật đáp ứng điều kiện bảo đảm an toàn về phòng, chống cháy nổ và các điều kiện về môi trường. Thực tế thì đây đều là những quy định khó tuân thủ, hoặc nếu tuân thủ thì chi phí tuân thủ cao để có thể bảo đảm các điều kiện theo luật định. 

Chọn “giải pháp an toàn”

Cũng tương tự như việc giao phương tiện giao thông vi phạm cho cá nhân, tổ chức giữ, bảo quản; thì việc đặt tiền bảo lãnh phương tiện giao thông bị tạm giữ theo thủ tục hành chính được thực hiện rất ít. Từ năm 2013 đến nay, cả nước mới chỉ có 392 trường hợp bảo lãnh phương tiện giao thông bị tạm giữ theo thủ tục hành chính.

Có nhiều nguyên nhân được đề cập tới, bên cạnh những nguyên nhân từ khâu tổ chức triển khai, cũng như việc tuyên truyền phổ biến thì những vướng mắc từ chính quy định của nghị định cũng được đề cập tới. Cụ thể Điều 15 Nghị định 113/2015 và Điều 8, Thông tư 47/2014/TT- BCA ngày 17.10.2014 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định, mức đặt tiền bảo lãnh ít nhất bằng mức tiền phạt đóng tối đa của khung phạt dành cho hành vi vi phạm. Chính vì thế, chủ các phương tiện vi phạm hành chính có điều kiện kinh tế khó khăn, giá trị của phương tiện bị tạm giữ thấp thường sẽ không có nhu cầu bảo lãnh phương tiện. Bên cạnh đó, trình tự, thủ tục bảo lãnh còn chưa cụ thể, rõ ràng cũng là một nguyên nhân dẫn đến việc đặt tiền bảo lãnh phương tiện giao thông còn chưa được áp dụng nhiều trên thực tế.

Điều đáng nói, khi áp dụng các trường hợp bảo lãnh (dù rất ít) thì lại thiếu các quy định về cách thức xử lý đối với số tiền nộp bảo lãnh còn thừa trong trường hợp người vi phạm không đến cơ quan chức năng để chấp hành quyết định xử phạt; hoặc các quy định hướng dẫn việc xác định người có hành vi vi phạm đã đặt tiền bảo lãnh phương tiện nhưng không đến để giải quyết xử phạt thì khi hết thời hạn xử phạt vi phạm hành chính mà thực hiện lưu thông phương tiện có được coi là hợp pháp hay không?. Chính vì thiếu sự hướng dẫn - thực chất là vừa hướng dẫn nghiệp vụ, vừa mang tính chất hướng dẫn áp dụng pháp luật, nên đa phần trong quá trình xử lý thì người có thẩm quyền đều lựa chọn “giải pháp an toàn” - tức là tạm giữ phương tiện vi phạm - mặc dù nơi tạm giữ phương tiện hiện đang rơi vào tình trạng quá tải.

Từ thực tế này, dự thảo sửa đổi, bổ sung Nghị định 115/2013 đã đề xuất mở rộng phạm vi áp dụng hình thức đặt tiền bảo lãnh để hạn chế việc đưa các phương tiện về các kho, bãi tạm giữ; đồng thời hướng dẫn cụ thể việc đặt tiền bảo lãnh theo quy định tại Khoản 10, Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Trong đó, hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục ra quyết định xử lý trong trường hợp người vi phạm, chủ sở hữu sau khi đặt tiền bảo lãnh nhưng không đến để giải quyết, làm rõ trường hợp chủ phương tiện đã đặt tiền bảo lãnh nhưng không đến giải quyết thì việc sử dụng phương tiện có hợp pháp hay không.

Đình Khoa
Nguồn: daibieunhandan.vn
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Tin mới

















 

Bài giảng tuyên truyền pháp luật

Thăm dò ý kiến

Đánh giá thái độ phục vụ của công chức Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ

Thoải mái, dễ chịu, vui vẻ

Hướng dẫn tận tình, chu đáo

Hướng dẫn thờ ơ, qua loa

Ý kiến khác

Bài giảng Luật An ninh mạng và quy tắc ứng xử trên mạng xã hội