Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng nhì


UBND xã  Tam Ngọc dẫn đầu phong trào thi đua năm 2017

UBND phường Hòa Thuận dẫn đầu phong trào thi đua Quý 4 năm 2017























 

:::Thống kê:::

  • Đang truy cập: 25
  • Hôm nay: 3230
  • Tháng hiện tại: 202811
  • Tổng lượt truy cập: 8898834

Mấy vấn đề về dự án Luật ban hành văn bản pháp luật

Đăng lúc: Thứ ba - 14/04/2015 14:06 - Người đăng bài viết: Tuphaptamky
Mặc dù đã qua nhiều phiên thảo luận ở các diễn đàn khác nhau, cho đến nay, xung quanh dự án Luật ban hành văn bản pháp luật cả về tên gọi của đạo luật và nhiều nội dung căn bản, quan trọng trong đó vẫn chưa được giải quyết trọn vẹn. Trong bài viết này, từ góc độ chuyên môn, xin nêu một số ý kiến góp phần làm rõ hơn những cơ sở lý luận cho việc giải quyết những vấn đề đang gây tranh cãi trong dự án luật.

Đạo luật phải nhằm trực tiếp giải quyết những vấn đề của hoạt động lập pháp, lập quy

Để bảo đảm các quan hệ xã hội được thực hiện có lợi cho mục tiêu giai cấp của mình, Nhà nước lựa chọn thừa nhận hoặc ban hành mới các quy tắc xử sự và sử dụng quyền lực chính đáng của mình buộc các chủ thể tham gia các quan hệ xã hội nhất định phải tuân theo những phương án mẫu đã đề ra trong các quy tắc đó. Các quy tắc xử sự này được chính thức ghi nhận trong các văn bản do các cơ quan thực hiện quyền lực Nhà nước ban hành theo thẩm quyền, hoặc phối hợp với chủ thể khác ban hành theo những trật tự mà pháp luật quy định. Các quy tắc xử sự đó chính là các quy phạm pháp luật. Quy phạm pháp luật (QPPL) là quy tắc xử sự chung, bắt buộc, được bảo đảm thực hiện bởi quyền lực và sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. QPPL là đơn vị cơ bản của hệ thống pháp luật ở mọi quốc gia và là công cụ để điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội.

Nhu cầu điều chỉnh pháp luật và khả năng điều chỉnh các quan hệ xã hội phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử và điều kiện sống khách quan của xã hội. Các QPPL là sự phản ánh khách quan các quan hệ xã hội tại giai đoạn lịch sử nhất định vào ý chí Nhà nước. Vì thế, cần tôn trọng quy luật khách quan khi quyết định các vấn đề liên quan đến QPPL, kể cả việc quy định ở đâu, dưới hình thức nào, thủ tục ban hành và chủ thể nào được quyền ban hành VBQPPL. 

Toàn bộ các QPPL liên hệ với nhau một cách hữu cơ và lập thành một hệ thống có kết cấu bên trong chặt chẽ, ngành nhánh, thứ bậc rõ ràng – đó chính là Hệ thống pháp luật thực định của quốc gia. Mỗi QPPL có vị trí pháp lý nhất định và vị trí pháp lý đó được xác định bởi giá trị và hiệu lực điều chỉnh của nó trong hệ thống. Sự phân tầng, thứ bậc của các quy phạm lại phụ thuộc vào thể thức, vị trí, vai trò của văn bản chứa QPPL. Và đến lượt nó, thể thức, vai trò, vị trí của văn bản QPPL lại phụ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan ban hành văn bản trong hệ thống quyền lực nhà nước.

Quy phạm và văn bản chứa quy phạm được ban hành nhằm áp đặt ý chí Nhà nước lên các quan hệ xã hội có tầm quan trọng nhất định đối với xã hội và nhằm xác lập trên thực tế quyền lực nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì thế ở đâu cần thiết phải xác lập quyền lực nhà nước và áp đặt ý chí nhà nước lên các quan hệ xã hội để điều chỉnh các quan hệ đó hình thành, phát triển theo hệ thống giá trị phù hợp lợi ích nhà nước (trong xã hội của chúng ta ý chí, lợi ích, các giá trị phổ quát của Nhà nước, xã hội và nhân dân cơ bản thống nhất) thì ở đó chủ thể nhân danh quyền lực nhà nước có thể và cần phải ban hành các văn bản QPPL trong phạm vi thẩm quyền, trách nhiệm của chủ thể để quản lý và điều tiết các quan hệ xã hội. Điều này đã được hiến định về mặt nguyên tắc.

Như vậy, vì cần một hệ thống các chuẩn mực làm cơ sở pháp lý cho các quan hệ xã hội cần thiết và có thể điều chỉnh mà nhà nước xây dựng pháp luật; và cần một trật tự, thể thức đúng đắn khoa học cho việc xây dựng hệ thống pháp luật mà các quốc gia phải sử dụng một đạo luật về ban hành văn bản QPPL. Luật Ban hành văn bản QPPL là luật về xây dựng pháp luật. Mặc dù trật tự xây dựng và thông qua Hiến pháp được điều chỉnh bằng những đạo luật (nghị quyết) riêng, trực tiếp cho mỗi lần ban hành Hiến pháp, nhưng việc xây dựng các quy phạm, chế định của Hiến pháp thì vẫn phải tuân thủ những nguyên tắc pháp lý căn bản của đạo luật về ban hành văn bản QPPL. Đạo luật này là cơ sở pháp lý trực tiếp cho việc soạn thảo và ban hành các văn bản QPPL của tất cả các chủ thể có thẩm quyền lập pháp, lập quy.

Điều chỉnh pháp luật có giới hạn là nguyên lý căn bản cần được quán xuyến trong hoạt động lập pháp

Trên tất cả các lĩnh vực hành chính, dân sự, xã hội, kinh tế, văn hóa, sinh hoạt cộng đồng… các mối quan hệ xã hội đều cần có các chuẩn mực chung để theo đó con người, xã hội, cộng đồng có thể chung sống với nhau, thống nhất chung với nhau về các giá trị chân, thiện, mỹ cũng như phân phối các lợi ích xã hội ở mức độ hợp lý nhất trên cơ sở đó xã hội được tồn tại một cách có tổ chức. Tuy nhiên, tính chất của các mối quan hệ xã hội trong các hoàn cảnh, điều kiện cụ thể ở các phạm vi, lĩnh vực, cấp độ rất khác nhau; ảnh hưởng của các quan hệ cụ thể đó đối với đời sống xã hội cũng ở mức độ rất khác nhau. Nhà nước và pháp luật chỉ có thể điều chỉnh đối với một số nhất định các loại quan hệ xã hội có ý nghĩa quan trọng đáng kể đối với trật tự xã hội và với chế độ nhà nước. Dù Nhà nước có muốn điều chỉnh tất cả mọi mối quan hệ xã hội cũng không thể làm được. Bởi sự điều chỉnh bị giới hạn bởi những điều kiện khách quan của tồn tại xã hội.  

Hoạt động sáng tạo pháp luật là một hình thức chủ đạo thực thi quyền lực nhà nước, khác biệt nhất định với các hình thức thi hành pháp luật hoặc bảo vệ pháp luật. Sáng tạo pháp luật được thực hiện thông qua các hình thức quy định mới các QPPL, sửa đổi hoặc hủy bỏ các quy phạm đã ban hành hoặc thừa nhận các quy phạm xã hội thành QPPL hoặc nội luật hóa các QPPL quốc tế. Các QPPL được ghi nhận trong những văn bản QPPL, đồng thời giá trị pháp lý và hiệu lực điều chỉnh của quy phạm luật lại bị quy định bởi vị trí, hiệu lực pháp luật của văn bản chứa nó trong toàn bộ hệ thống văn bản QPPL. 

Nhà nước thông qua hoạt động sáng tạo pháp luật sử dụng các QPPL để hình thành, điều tiết, uốn nắn, chấm dứt, cấm đoán các loại quan hệ xã hội. Tuy nhiên, sự điều chỉnh pháp luật chỉ có thể có hiệu lực và đạt hiệu quả trong giới hạn khách quan của nó. Giới hạn điều chỉnh của pháp luật chính là khả năng chủ quan của Nhà nước có thể can thiệp vào các quan hệ xã hội (thừa nhận hoặc quy định) đến một mức độ nào đó mà hoàn cảnh khách quan chấp nhận được để bảo đảm rằng các quan hệ xã hội được thực hiện theo đúng phương án mẫu trong QPPL đã định. Ngoài giới hạn đó, QPPL sẽ không khả thi. Ngoài giới hạn điều chỉnh pháp luật, xã hội phải chấp nhận sự điều chỉnh của các loại quy phạm khác về văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ, tinh thần… từ tập tục, truyền thống, thói quen sinh hoạt. Các chuẩn mực hành vi trong cộng đồng, tổ chức xã hội do các tổ chức này quy định và cũng có hiệu lực thi hành trong nội bộ. Tuy nhiên từ bản chất dân chủ, Nhà nước XHCN có xu hướng chuyển giao một phần chức năng nào đó cho các tổ chức xã hội thực hiện, hoặc phối hợp với các tổ chức này để quản lý nhà nước và quản lý xã hội. Nhằm mục đích đó, văn bản chứa QPPL mà Nhà nước phối hợp tổ chức xã hội ban hành là văn bản QPPL; các quy tắc xử sự trong các văn bản đó là các QPPL. Ví dụ, những nghị quyết liên tịch giữ các cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội với các cơ quan quyền lực nhà nước ở Trung ương (UBTVQH, Chính phủ…) có chứa những quy định chung, bắt buộc tất cả các chủ thể tham gia vào các quá trình xã hội nào đó phải tuân thủ, thì đó là văn bản QPPL. 

Việc sử dụng các loại văn bản quy phạm dưới luật một cách hợp lý, dựa trên việc phân cấp, phân quyền đúng đắn là nhu cầu khách quan đối với một xã hội đang chuyển đổi năng động, các quan hệ xã hội đang hết sức biến động như Việt Nam hiện nay và sẽ còn phổ biến lâu dài. Những tư duy đi ngược điều này, nôn nóng bỏ bớt các loại văn bản (pháp lệnh, nghị quyết liên tịch, thông tư liên bộ…) sẽ là duy ý chí, chỉ làm cho hệ thống pháp luật vừa cứng nhắc, không phản ánh đúng thực tế tồn tại xã hội và khó khăn cho cả cơ quan quản lý nhà nước cũng như người dân. Vấn đề không phải ở chỗ nhiều tầng nấc quy phạm mà chính là ở chỗ tính nhất quán, tính hệ thống và kịp thời. Vấn đề này lại không phải được giải quyết bằng cách bỏ bớt loại văn bản. Cần khắc phục sự ngộ nhận khi cho rằng chỉ có luật mới không vi phạm quyền con người. Cũng không phải vì nhiều tầng nấc nên văn bản ban hành chậm. Rất ít tầng nấc nhưng pháp chế không nghiêm thì chậm trễ và vi phạm vẫn cứ xảy ra thường xuyên. Vấn đề nằm ở kỹ luật ban hành văn bản.  

Quan hệ xã hội ở cấp độ nào thì cần có QPPL ở cấp độ đó điều chỉnh và điều chỉnh một cách đúng đắn, nhất quán với Hiến pháp, với các văn bản QPPL khác. Đó mớí là điều kiện quyết định để pháp luật thông suốt và quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia các quan hệ xã hội được thực hiện.

Tất cả những điều đó nói lên rằng ở trình độ phát triển của pháp luật Việt Nam hiện nay cần thiết phải có trong hệ thống pháp luật nhiều loại văn bản như các bộ luật, đạo luật riêng lẻ, pháp lệnh, nghị định, nghị quyết kể cả tương đương luật và dưới luật, thông tư liên tịch, liên bộ, văn bản pháp quy của chính quyền địa phương các cấp. Không nên nôn nóng lược bỏ các loại văn bản này sẽ làm cho các quá trình xã hội thiếu các QPPL điều chỉnh linh hoạt, kịp thời và đúng đắn, đúng tầm của quan hệ xã hội. Văn bản QPPL là sản phẩm tất yếu của các hoạt động thực thi quyền lực và quản lý nhà nước. Vấn đề không phải ở chỗ hạn chế chủ thể thực thi quyền lực quản lý xã hội, quản lý nhà nước ban hành văn bản QPPL thì sẽ bảo đảm không vi phạm quyền con người. Vấn đề chính nằm ở chỗ: các văn bản ban hành phải kịp thời, nhất quán từ trên xuống dưới, bắt đầu từ Hiến pháp, và để nhằm thực hiện đúng đắn, đến cùng các quy định của Hiến pháp. Điều này được bảo đảm quan trọng chính bằng các hoạt động giám sát, kiểm tra, kiểm soát.    

Phân biệt rõ ràng, đúng đắn hai dạng văn bản pháp luật, văn bản QPPL là cơ sở lý thuyết quan trọng để lựa chọn phương án điều chỉnh của dự luật

Văn bản QPPL và văn bản pháp luật là hai phạm trù rất khác nhau. Nó không chỉ thuần túy khác nhau về mặt hình thức, một loại có chứa QPPL và loại kia không chứa QPPL. Sự khác biệt sâu sắc về bản chất của hai hiện tượng này xuất phát từ bản chất của Nhà nước, pháp luật và sự phân công chức năng trong hệ thống quyền lực nhà nước, những nguyên tắc phổ biến vận hành bộ máy nhà nước, hệ thống xã hội và giới hạn điều chỉnh của pháp luật.

Văn bản QPPL là một thuật ngữ chuyên môn pháp lý để chỉ văn bản có chứa QPPL. Khi nói đến các QPPL là nói đến một quan hệ xã hội được định hình rõ rệt và ổn định tương đối lâu dài. Các quan hệ xã hội nào được Nhà nước thừa nhận và được điều chỉnh bởi một QPPL trở thành một quan hệ pháp luật. Xét về mặt triết học, các quan hệ xã hội là cái khách quan, còn các QPPL là sự phản ánh chủ quan của ý chí Nhà nước thông qua hoạt động lập pháp. Văn bản QPPL là phương tiện ghi nhận chính thức sự phản ánh đó. 

Mối liên hệ kết nối và phụ thuộc, chế ước nhau của các quy phạm, các nhóm quy phạm được tạo dựng nên bởi các văn bản QPPL. Không có các văn bản QPPL, các QPPL không được tổ chức thành hệ thống, và không thể hiện được thứ bậc. Vì thế, văn bản QPPL có ý nghĩa vô cùng quan trọng như là bộ xương khung của hệ thống pháp luật quốc gia.   

Toàn bộ văn bản QPPL liên hệ với nhau trong hệ thống sắp xếp thứ bậc chặt chẽ, có tính nguyên tắc và tính quy luật. Theo đó, văn bản chứa QPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn đóng vai trò cơ sở pháp lý trực tiếp cho các văn bản QPPL có có hiệu lực pháp lý thấp hơn cụ thể hóa QPPL đó. Trong toàn bộ hệ thống đó, vị trí ưu thế tuyệt đối thuộc về các đạo luật và giữa các đạo luật vị trí tối thượng là Hiến pháp. 

Thứ bậc của các văn bản QPPL trong hệ thống pháp luật được xác định bởi hai yếu tố: hình thức văn bản và vị trí của cơ quan ban hành nó trong hệ thống quyền lực quốc gia.   

Khác với văn bản QPPL, văn bản pháp luật (VBPL) là từ dùng chung để chỉ các văn bản do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn pháp luật quy định, có giá trị, ý nghĩa pháp lý nhất định. Thuật ngữ đó chưa cho phép nhận thức văn bản có chứa hay không các QPPL, quan hệ như thế nào với các QPPL. Đó có thể  là những văn bản đơn phương, cá biệt, có tính thời điểm, có hàm chứa chứa hoặc không hàm chứa một mô thức mẫu cho một quan hệ xã hội nào đó. Những quyết định áp dụng pháp luật cá biệt để tuyên dương một cá nhân tiêu biểu; xử phạt một người vi phạm; đốc thúc một đối tượng cụ thể thực hiện nghĩa vụ; yêu cầu truyên truyền phổ biến một đạo luật mới ban hành; huy động một đợt tuyển quân... Khó thể quy định hết thành khuôn mẫu chung, bắt buộc đối với mọi cá nhân, tổ chức trong một đạo luật bởi sự đa dạng, phong phú, năng động của đời sống xã hội.  

Quan điểm coi VBPL gồm hai loại: văn bản quy phạm và văn bản hành chính là một quan điểm sai lầm về mặt khoa học. Thuật ngữ văn bản hành chính không có nội hàm chính xác và cũng không bao quát được toàn bộ những VBPL không chứa quy phạm. Hành chính là thực thi quyền lực hành pháp. Hành chính gắn liền với triển khai thực hiện các chức năng quản lý. Thế thì, nhiều quyết định hành chính nhà nước có chứa quy phạm. Một quyết định của Thủ tướng, một quyết định của Bộ trưởng hoàn toàn có thể là văn bản quy phạm.  

Văn bản QPPL được ban hành theo một trình tự, thủ tục khắt khe do luật định bởi đòi hỏi phải phản ánh nhất quán chính sách, cụ thể hóa chính sách thành những chuẩn mực, bảo đảm tính bắt buộc để chính sách được thực hiện thống nhất và phải tuân thủ tính hệ thống, tính thứ bậc rõ ràng. Trong khi đó, VBPL nói chung được ban hành bởi tất cả các chủ thể quản lý, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, hành chính, văn hóa, giáo dục, y tế, lao động… để thực hiện chức năng, nhiệm vụ ở tất cả các tầng cấp, phạm vi tổ chức các quan hệ xã hội. Các văn bản quản lý, văn bản áp dụng pháp luật là hết sức đa dạng bởi tính cá biệt của hoàn cảnh, tính cá biệt, cụ thể của nội dung và sự thể hiện ý chí riêng của chủ thể quản lý…

Mọi chủ thể nhân danh Nhà nước để quản lý một phạm vi ít nhiều các quan hệ xã hội đều phải ban hành các quyết định quản lý dưới các hình thức và nội dung rất khác nhau (chủ yếu bằng các văn bản) phụ thuộc vào chức năng, phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn và tính chất của lĩnh vực hoạt động. Nhưng các cơ quan quản lý Nhà nước trực tiếp, thường xuyên tổ chức, điều hành công cuộc xây dựng KT- XH và củng cố quốc phòng- an ninh, tổ chức trên thực tế việc thực thi pháp luật trên một lĩnh vực hay một phạm vi lãnh thổ nào đấy thì không thể không ban hành các văn bản QPPL để quản lý nhà nước trong phạm vi đó.

Nếu HĐND mà không ban hành nghị quyết thì không thể thực hiện vai trò cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Nếu UBND một cấp nào đó mà không ban hành văn bản QPPL thì cơ quan đó không thể quản lý điều hành các quá trình KT- XH trên địa bàn, và trong phạm vi chức năng của mình. 

Có thể thống nhất rằng, dự án luật này chỉ nên điều chỉnh hoạt động ban hành văn bản QPPL. Tên đạo luật cần thiết phải là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi). Xử lý thật kỹ càng những khía cạnh vừa nêu trên trong đạo luật này sẽ góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động xây dựng pháp luật, để pháp luật được tăng cường tính hệ thống, tính khả thi và bền vững.

GS.TS luật học Hồ Trọng Ngũ 
Ủy viên Hội đồng khoa học thuộc UBTVQH
Nguồn:daibieunhandan.vn
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Tin mới

Thăm dò ý kiến

Đánh giá thái độ phục vụ của công chức Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ

Thoải mái, dễ chịu, vui vẻ

Hướng dẫn tận tình, chu đáo

Hướng dẫn thờ ơ, qua loa

Ý kiến khác

Phóng sự giao trả hồ sơ tận nhà trên lĩnh vực Hộ tịch