Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng nhì

UBND xã  Tam Ngọc dẫn đầu phong trào thi đua năm 2017

UBND phường Hòa Thuận dẫn đầu phong trào thi đua Quý 2 năm 2018





















 

:::Thống kê:::

  • Đang truy cập: 32
  • Khách viếng thăm: 30
  • Máy chủ tìm kiếm: 2
  • Hôm nay: 7960
  • Tháng hiện tại: 212518
  • Tổng lượt truy cập: 11062572

Vị trí, vai trò của pháp luật chứng thực trong hệ thống pháp luật Việt nam

Đăng lúc: Thứ tư - 16/09/2015 13:35 - Người đăng bài viết: Tuphaptamky
CLICK VAO DAY DE THI TIM HIEU PHAP LUAT - GIẢI THƯỞNG 6 TRIỆU ĐỒNG/ĐỢT
1.Pháp luật chứng thực là pháp luật về hình thức (pháp luật về thủ tục) và có mối liên hệ chặt chẽ với pháp luật về nội dung thuộc các chuyên ngành khác

Pháp luật về chứng thực là pháp luật về thủ tục, do đó phụ thuộc sâu sắc vào pháp luật nội dung thuộc  các chuyên ngành khác như pháp luật về đất đai, nhà ở... Pháp luật về chứng thực là pháp luật về thủ tục, vì vậy pháp luật chứng thực phải bám sát các quy định mang tính “nội dung” của pháp luật thuộc các chuyên ngành khác. Nếu pháp luật chứng thực không bám sát nội dung của pháp luật chuyên ngành, sẽ dẫn đến tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn và kết quả của hoạt động chứng thực là văn bản chứng thực có thể bị vô hiệu. Ví dụ: Pháp luật về Đất đai (pháp luật nội dung) quy định người có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà trên đó có ghi còn đang nợ tiền sử dụng đất thì không được thực hiện giao dịch, vì vậy nếu người thực hiện chứng thực vẫn chứng thực hợp đồng, giao dịch đối với trường hợp này thì hợp đồng, giao dịch đó sẽ bị coi là vô hiệu. 

Tuy nhiên, do pháp luật chứng thực có mối quan hệ khăng khít như vậy với pháp luật thuộc các chuyên ngành khác nên dễ dẫn đến tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo giữa pháp luật chứng thực với các chuyên ngành pháp luật này nếu không có sự phân định rạch ròi. Thực tế thời gian qua cho thấy, một số cơ quan do vô tình hoặc cố ý đã quy định quá sâu về nghiệp vụ chứng thực, gây khó khăn cho hoạt động chứng thực. Vậy đâu là ranh giới giữa pháp luật chứng thực và pháp luật có liên quan? Đây là vấn đề mà những người làm công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cần hết sức lưu ý để tránh dẫn tới chồng chéo, mâu thuẫn, khó áp dụng. Thực tế đã có tình trạng một số bộ, ngành đã có quy định “lấn sân” sang lĩnh vực chứng thực. Cụ thể, Thông tư số 20/2010/TT-BGTVT ngày 30/7/2010 của Bộ Giao thông vận tải quy định về cấp, đổi, thu hồi đăng ký, biển số xe máy chuyên dùng có tham gia giao thông đường bộ, tại mẫu Giấy bán, cho, tặng xe máy chuyên dùng ban hành kèm theo Thông tư này đã quy định phải có xác nhận của chính quyền cấp xã nơi người bán, cho, tặng đăng ký thường trú (Nội dung xác nhận là chứng thực chữ ký của người bán, cho, tặng xe máy chuyên dùng) và Thông tư số 15/2014/TT- BCA ngày 4/4/2014 của Bộ Công an quy định về đăng ký xe đã quy định Giấy bán, cho, tặng xe phải có công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực. Như vậy, các văn bản này đã quy định “lấn sân” sang lĩnh vực chứng thực, cụ thể là thay vì chỉ nên quy định: “Giấy bán, cho, tặng xe phải có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật về công chứng, chứng thực » thì Bộ Công an đã quy định rõ việc chứng thực chữ ký trong Giấy bán, cho, tặng xe. Trong khi đó, chức năng quản lý nhà nước về công tác chứng thực là thuộc Bộ Tư pháp. Vì vậy, trước đây, trong thời gian Bộ Tư pháp còn chưa có hướng dẫn chính thức về vấn đề này thì các địa phương vẫn còn lúng túng, chưa dám thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 15/2014/TT- BCA. Hơn nữa, nếu theo quy định của pháp luật về chứng thực thì cả Phòng Tư pháp và UBND cấp xã đều có thẩm quyền chứng thực chữ ký và thẩm quyền chứng thực chữ ký không phụ thuộc vào nơi cư trú của người yêu cầu chứng thực chữ ký. Tuy nhiên, nếu căn cứ theo hướng dẫn tại Thông tư số 15/2014/TT- BCA thì chỉ UBND cấp xã mới có thẩm quyền chứng thực chữ ký trong giấy bán, tặng, cho xe và thậm chí Thông tư số 20/2010/TT-BGTVT còn giới hạn phải là UBND cấp xã nơi người bán, cho, tặng đăng ký thường trú mới có thẩm quyền này. Chính sự mâu thuẫn, không thống nhất này đã dẫn đến tình trạng cơ quan thực thi pháp luậtt khó áp dụng pháp luật, hoặc dễ vận dụng sai quy định của pháp luật  hoặc thậm chí dẫn đến “lách luật”..

        Vì vậy, để tránh tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn nêu trên, theo chúng tôi, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc các chuyên ngành pháp luật nội dung có liên quan cần lưu ý chỉ nên dừng lại ở quy định: “... phải có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật về công chứng, chứng thực”. Còn công chứng, chứng thực theo trình tự, thủ tục nào, cơ quan nào có thẩm quyền công chứng, chứng thực thì sẽ do pháp luật về công chứng, chứng thực quy định.

2.Pháp luật chứng thực là “cầu nối”, là điểm giao thoa trong hệ thống pháp luật Việt Nam

  Hệ thống pháp luật Việt Nam rất phong phú, đa dạng, có thể nói lĩnh vực nào của cuộc sống cũng được điều chỉnh bằng luật pháp: từ đất đai, nhà ở, hợp đồng, giao dịch,  tuyển dụng, tuyển sinh… Do đó, có thể nói, pháp luật chứng thực có mối liên hệ chặt chẽ với tất cả các văn bản trong hệ thống pháp luật, đặc biệt pháp luật về về dân sự, đất đai, nhà ở, hôn nhân và gia đình. Chính vì vậy, nhiều người làm công tác tư pháp cho rằng lĩnh vực chứng thực là một lĩnh vực “khó”, đòi hỏi người làm chứng thực phải có phạm vi hiểu biết rộng đối với mọi lĩnh vực. Bởi vì, chỉ căn cứ vào riêng bản thân quy định của pháp luật về chứng thực thì hầu hết trong nhiều trường hợp không thể giải quyết được một việc chứng thực. Bởi vì, việc chứng thực luôn được đặt nằm trong một “quy trình của thủ tục hành chính” để thực hiện quyền của người dân. Hiểu một cách nôm na là việc chứng thực luôn để nhằm thực hiện một việc tiếp theo cụ thể nào đó: VD chứng thực bản sao bằng tốt nghiệp để xin việc…; chứng thực chữ ký người dịch để nộp hồ sơ kết hôn, xin việc…; chứng thực hợp đồng ủy quyền, giấy ủy quyền để nhờ người khác giải quyết một việc cụ thể… hoặc chứng thực hợp đồng, giao dịch để hoàn thành quy trình chuyển quyền sở hữu tài sản. Vì vậy, có thể nói trong đời sống dân sự có bao nhiêu lĩnh vực con người phải tiếp cận tới thì gần như có bấy nhiêu lĩnh vực hoạt động chứng thực phải tiếp cận tới.

 Việc thực hiện các thủ tục hành chính, đặc biệt việc thực hiện các giao dịch về dân sự, đất đai, nhà ở … cần tới công cụ không thể thiếu – đó là lòng tin – là sự xác nhận. Vì vậy, pháp luật chứng thực là pháp luật tạo ra “lòng tin”. Sự tin tưởng lẫn nhau và không lừa dối: đó là sự cần thiết, điều kiện không thể thiếu để tạo lập các giao dịch hoặc giải quyết các thủ tục. Vì vậy, pháp luật chứng thực chính là công cụ pháp lý để đảm bảo lòng tin. Có thể nói, đây là một công cụ rất cần thiết và hết sức quan trọng. Công cụ này một mặt đảm bảo được lòng tin, ngăn ngừa sự lừa dối giữa các bên, mặt khác phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật, góp phần ổn định xã hội. Xã hội càng phát triển, con người càng có những công cụ hiện đại, khoa học để tạo ra lòng tin trong thực hiện các giao dịch. Vì vậy, pháp luật chứng thực cũng đang từng bước chuyển mình để tạo ra những công cụ hữu ích hơn, thuận tiện hơn. Những phương tiện hiện đại như chứng thực điện tử, chứng thực chữ ký điện tử (tuy những hoạt động này hiện nay chưa thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật chứng thực mà chúng ta đang đề cập đến) cũng bắt đầu được nghiên cứu, khai thác và sử dụng, ngày càng làm phong phú hơn hoạt động chứng thực nói chung - hoạt động tạo ra lòng tin.

Chính vì những lẽ đó, pháp luật chứng thực đã trở thành công cụ rất quan trọng trong việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật nói chung. Vì vậy, yêu cầu đối với công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực chứng thực cũng rất cao: đó là đòi hỏi văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực chứng thực phải đưa ra được những quy định vừa đảm bảo phù hợp với bản chất của hoạt động chứng thực, vừa đảm bảo phù hợp với các chuyên ngành pháp luật khác có liên quan để tránh tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo.

3. Phương hướng hoàn thiện pháp luật chứng thực

Xuất phát từ vai trò, vị trí, tầm quan trọng của pháp luật chứng thực như đã nêu trên, nên việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về chứng thực là hết sức cần thiết. Để hoàn thiện hệ thống pháp luật chứng thực, chúng tôi kiến nghị cần thực hiện tốt những việc sau:

- Cần xây dựng cơ sở lý luận ổn định của hoạt động chứng thực: Có thể nói, vai trò của hoạt động chứng thực trong đời sống xã hội đã được thực tế khẳng định. Tuy nhiên, quá trình phát triển của hoạt động chứng thực có rất nhiều “thăng trầm”, thay đổi. Trước đây, hoạt động chứng thực hòa nhập với hoạt động công chứng: hoạt động chứng thực được gọi là hoạt động công chứng, người thực hiện chứng thực được gọi là công chứng viên. Giai đoạn tiếp theo, hoạt động chứng thực được coi là một bộ phận, một phần của hoạt động công chứng. Hoạt động chứng thực thời gian này cũng rất mờ nhạt bên cạnh hoạt động công chứng. Người dân và toàn xã hội chỉ biết đến khái niệm “công chứng”, không biết đến khái niệm “chứng thực”. Đến giai đoạn Luật Công chứng năm 2006 và Nghị định số 79/2007/NĐ-CP được ban hành thì hoạt động chứng thực lại bị tách bạch hoàn toàn khỏi hoạt động công chứng. Đến nay, khi Luật Công chứng năm 2014 được ban hành và Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch được ban hành thì hai hoạt động này đã có được sự giao thoa hợp lý hơn. Như vậy, trải qua nhiều thời kỳ khác nhau với sự thay đổi nhận thức khác nhau, cơ sở lý luận về hoạt động chứng thực cũng không ngừng được thay đổi và đang dần từng bước để tiến tới sự hoàn thiện. Chính sự chưa ổn định, vững chắc trong cơ sở lý luận của hoạt động chứng thực đã ảnh hưởng tới các yếu tố của sự phát triển của hoạt động chứng thực như về thể chế, bộ máy, nhân sự… làm ảnh hưởng tới sự phát triển của hoạt động chứng thực.

- Xây dựng Luật Chứng thực để tạo cơ sở pháp lý thống nhất, vững chắc và ổn định cho hoạt động chứng thực: Trước đây, quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động chứng thực còn tản mạn, chắp vá, chưa thống nhất, đồng bộ: việc chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký được thực hiện theo quy định của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 8/5/2007 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, Nghị định số 04/2012/NĐ-CP ngày 20/1/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều 5 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP, Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 2/2/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân gia đình và chứng thực, và các văn bản hướng dẫn thi hành các Nghị định này; còn việc chứng thực hợp đồng, giao dịch vẫn được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 75/2000/NĐ-CP (Nghị định đã hết phần hiệu lực liên quan đến hoạt động công chứng), Thông tư số 03/2001/TP-CC ngày 14/3/2001 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất. Như vậy, cùng là hoạt động chứng thực nhưng các việc chứng thực lại được điều chỉnh bởi các văn bản quy phạm pháp luật riêng lẻ. Sự tản mạn, chắp vá, thiếu thống nhất, đồng bộ của quy định pháp luật về chứng thực đã gây khó khăn cho người thực hiện chứng thực trong thi hành công vụ và cản trở người dân trong việc tiếp cận pháp luật về chứng thực, tiếp cận dịch vụ chứng thực. Đến nay, tuy Nghị định số 23/2015/NĐ-CP đã được ban hành, thống nhất cơ sở pháp lý của hoạt động chứng thực song hiệu lực pháp lý của quy phạm pháp luật về chứng thực chưa cao, thiếu tính tương thích về cấp độ của văn bản. Cho đến nay, văn bản chính, điều chỉnh trực tiếp hoạt động chứng thực mới chỉ dừng ở cấp độ Nghị định. Trong khi đó, một số văn bản điều chỉnh lĩnh vực khác có liên quan đến hoạt động chứng thực hầu hết đã được ban hành ở cấp độ luật như: Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Công chứng ... Do đó, nhiều vấn đề liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung pháp luật về chứng thực phải phụ thuộc và tuân theo quy định của các văn bản ở cấp độ Luật của chuyên ngành khác. Vì hoạt động chứng thực được điều chỉnh bởi văn bản pháp lý có giá trị thấp hơn nên mức độ tuân thủ pháp luật về chứng thực của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chưa đúng mức, còn bị chi phối bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác.

-Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính trong hoạt động chứng thực để hoạt động chứng thực phát huy tốt vai trò của mình trong đời sống xã hội, trở thành công cụ đắc lực để phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

- Tiếp tục hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật nói chung để tạo sự thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật, tạo thuận lợi cho người dân./.


 Nguyễn Thu Hương
Nguồn:moj.gov.vn

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Tin mới

















 

Thăm dò ý kiến

Đánh giá thái độ phục vụ của công chức Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ

Thoải mái, dễ chịu, vui vẻ

Hướng dẫn tận tình, chu đáo

Hướng dẫn thờ ơ, qua loa

Ý kiến khác

Phóng sự giao trả hồ sơ tận nhà trên lĩnh vực Hộ tịch