Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng nhì

UBND xã  Tam Ngọc dẫn đầu phong trào thi đua năm 2017

UBND phường Hòa Thuận dẫn đầu phong trào thi đua Quý 2 năm 2018





















 

:::Thống kê:::

  • Đang truy cập: 32
  • Khách viếng thăm: 27
  • Máy chủ tìm kiếm: 5
  • Hôm nay: 1305
  • Tháng hiện tại: 207115
  • Tổng lượt truy cập: 10475160

Không đánh đồng giữa công chứng và chứng thực

Đăng lúc: Thứ sáu - 30/05/2014 10:44 - Người đăng bài viết: Tuphaptamky
Thảo luận về dự thảo Luật Công chứng (sửa đổi), một số ý kiến cho rằng, vẫn còn một số quy định chồng chéo, mâu thuẫn với các luật khác. Bên cạnh đó, khi mở rộng phạm vi hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên cần hiểu rõ bản chất pháp lý của hoạt động công chứng và hoạt động chứng thực. Công chứng là việc xác nhận tính xác thực hợp pháp của các hợp đồng giao dịch dân sự.
Không đánh đồng giữa công chứng và chứng thực

Không đánh đồng giữa công chứng và chứng thực

 

Chứng thực là việc xác nhận bản sao một văn bản đúng với bản chính hoặc xác nhận chữ ký trong văn bản là đúng chữ ký của một người nào đó. Trong khi đó dự thảo luật đã mở rộng đối tượng công chứng sang cả bản dịch và công chứng viên được quyền chứng thực cả bản sao các giấy tờ, văn bản chứng thực chữ ký cá nhân trong các giấy tờ, văn bản liên quan đến nội dung công chứng. Quy định như vậy là đánh đồng hoạt động công chứng và hoạt động chứng thực.

 

ĐBQH Trần Thị Hiền (Hà Nam): Không nên đánh đồng giữa công chứng và chứng thực

Tôi thấy vẫn còn những quy định mâu thuẫn, chồng chéo giữa Luật Công chứng với các luật khác, đặc biệt là Bộ luật Dân sự và Luật Đất đai. Đơn cử như tại Khoản 1, Điều 5 dự thảo quy định về giá trị pháp lý của văn bản công chứng: "Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký, đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng". Nhưng tại Điều 692 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất như sau: "Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai". Điều 466, Bộ Luật Dân sự năm 2005 cũng quy định: "Hợp đồng tặng, cho động sản có hiệu lực khi bên được tặng cho nhận tài sản đối với động sản mà pháp luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng, cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký". Vì vậy, tôi đề nghị cần tiếp tục rà soát các quy định của dự thảo luật với các luật khác trước khi luật được thông qua để tránh mâu thuẫn chồng chéo.

Tôi đề nghị bỏ quy định tại Khoản 3, Điều 4 quy định nguyên tắc hành nghề công chứng không vì mục đích lợi nhuận. Theo tôi nguyên tắc này nếu có áp dụng thì chỉ phù hợp với các phòng công chứng, còn đối với các văn phòng công chứng thực tế là không phù hợp, vì phần lớn các công chứng viên thành lập văn phòng công chứng đều hướng tới mục đích lợi nhuận. Việc các công chứng viên bỏ tiền đầu tư để thành lập văn phòng công chứng hoạt động không vì mục đích lợi nhuận sẽ không thu hút được công chứng viên thành lập các văn phòng công chứng. Bên cạnh đó các văn phòng công chứng hoạt động còn cần phải bỏ ra một phần kinh phí để duy trì hoạt động của văn phòng, phải có lợi nhuận để bù cho những lúc không có lợi nhuận để duy trì và phát triển hoạt động của văn phòng.

Đối với việc mở rộng phạm vi hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên, trước khi xem xét việc mở rộng phạm vi hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên chúng ta cần hiểu rõ bản chất pháp lý của hoạt động công chứng và hoạt động chứng thực. Công chứng là việc xác nhận tính xác thực hợp pháp của các hợp đồng giao dịch dân sự, còn chứng thực là việc xác nhận bản sao một văn bản là đúng với bản chính hoặc xác nhận chữ ký trong văn bản là đúng chữ ký của một người nào đó. Với bản chất như vậy, công chứng có ý nghĩa bảo đảm sự an toàn pháp lý của các hợp đồng giao dịch, còn chứng thực chỉ có ý nghĩa là xác nhận sự tin cậy của các bản sao hoặc chữ ký trên văn bản. Do vậy, hoạt động công chứng phải được các công chứng viên, nghĩa là những người có chuyên môn am hiểu pháp luật thực hiện, còn hoạt động chứng thực có thể do công chức, viên chức của các cơ quan hành chính tư pháp thực hiện. Quy định về công chứng, chứng thực như trong Luật Công chứng năm 2006 và Nghị định 79 năm 2007, của Chính phủ là phù hợp, phản ánh đúng bản chất và ý nghĩa pháp lý của công chứng và chứng thực. Trong khi đó dự thảo Luật Công chứng (sửa đổi), tại Khoản 1, Điều 2 đã mở rộng đối tượng công chứng sang cả bản dịch và Điểm c, Khoản 1, Điều 17 quy định công chứng viên được quyền chứng thực cả bản sao các giấy tờ, văn bản chứng thực chữ ký cá nhân trong các giấy tờ, văn bản liên quan đến nội dung công chứng. Theo tôi, quy định như vậy là đánh đồng hoạt động công chứng và hoạt động chứng thực. Do vậy, tôi đề nghị nên giữ nguyên quy định cũ, không nên mở rộng đối tượng công chứng và không cho thêm thẩm quyền chứng thực cho công chứng viên.

Nguồn: hanoimoi.com.vn

ĐBQH Huỳnh Nghĩa (Đà Nẵng): Nguyên tắc không vì mục đích lợi nhuận chỉ phù hợp với mô hình phòng công chứng do Nhà nước bao cấp

Về nguyên tắc hành nghề công chứng, Khoản 3, Điều 4 quy định bổ sung một nguyên tắc mới trong hành nghề công chứng là không vì mục đích lợi nhuận. Thực tế giám sát hoạt động công chứng trong những năm qua cho thấy kể từ khi xã hội hóa công chứng thì lĩnh vực này có sự cạnh tranh gay gắt. Trong thực tiễn, muốn thành lập được một văn phòng công chứng là cực kỳ khó khăn do bị khống chế về số lượng các văn phòng công chứng trên cùng một đơn vị hành chính. Nguyên tắc không vì mục đích lợi nhuận chỉ phù hợp với mô hình phòng công chứng do Nhà nước bao cấp. Nhưng theo luật, mô hình này sẽ bị hạn chế dần, thay vào đó là các văn phòng công chứng tư nhân hoạt động mang tính chất kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp.

Hiện nay các văn phòng công chứng đều tập trung nguồn vốn khá lớn để đầu tư xây dựng trụ sở, trang bị hiện đại bằng nguồn tiền của họ, chứ không phải dùng ngân sách Nhà nước. Thậm chí họ phải chịu trách nhiệm việc bồi thường thiệt hại cho khách hàng nếu có lỗi, nên dù hoạt động ở lĩnh vực cung cấp dịch vụ hay công ích thì văn phòng công chứng cũng không thể không tính đến yếu tố lợi nhuận. Do đó, nếu có đưa hay không đưa nguyên tắc không vì mục đích lợi nhuận vào luật thì các văn phòng công chứng vẫn phải tìm mọi cách để hoạt động, sử dụng nhiều biện pháp để thu hút khách hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh như một doanh nghiệp kinh doanh bình thường với mục đích cuối cùng là tìm lợi nhuận ở mức độ cao nhất có thể. Như vậy rõ ràng việc đưa nguyên tắc vào luật cũng chỉ mang tính hình thức, không phù hợp với thực tế. Ngoài ra, nếu quy định không vì mục đích lợi nhuận thì sẽ xảy ra hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm, từ chối chứng nhận những giao dịch có độ rủi ro cao. Chính vì vậy đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc xem xét vấn đề thấu đáo loại bỏ nguyên tắc không vì mục đích lợi nhuận ra khỏi Điều 4 của dự thảo luật.

Về mở rộng phạm vi hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên Điều 17. Trước hết phải thấy rằng nhu cầu công chứng, chứng thực là rất lớn và không thể thiếu trong đời sống xã hội. Tôi đồng tình với nhận định của UBTVQH rằng việc giao cho các tổ chức hành nghề công chứng và công chứng viên nhiệm vụ công chứng bản dịch, chứng thực chữ ký và bản sao giấy tờ văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước sẽ tạo thuận lợi cho người dân, đồng thời cũng không trái với nguyên tắc cơ bản của Liên minh công chứng thế giới mà Việt Nam là thành viên. Vì trong thực tế những việc này đã hình thành trong ý thức và thói quen của người dân rằng đi công chứng, chứng thực là đến một nơi, đến một tổ chức nhất định. Hơn nữa, đây là một chủ trương đúng đắn nhằm đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bổ trợ tư pháp, giảm tải sức nặng của bộ máy hành chính, tinh giản đội ngũ cán bộ ở những lĩnh vực mà nhà nước không cần thiết nắm giữ. Qua đó sẽ giảm được nhiều khoản chi ngân sách không cần thiết, dùng những khoản chi này để đầu tư vào các lĩnh vực cấp bách, trọng yếu của quốc gia, nhất là trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay rất khó khăn, bội chi ngân sách kéo dài.

Tôi đề nghị giao cho công chứng viên thực hiện đầy đủ các quyền về công chứng bản dịch, chứng thực chữ ký và bản sao như các cơ quan hành chính nhà nước, nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân, góp phần giảm tải áp lực công việc trong các cơ quan hành chính. Không nên hạn chế thẩm quyền của công chứng viên, văn phòng công chứng. Không việc gì cứ phải làm luật theo kiểu xã hội hóa nhỏ giọt, mỗi lần sửa luật lại xã hội hóa một ít, giữ lại một ít cho cơ quan nhà nước theo kiểu "dĩ hòa vi quý".

ĐBQH Nguyễn Tuyết Liên (Sóc Trăng):  Công chứng viên không được tham gia thành lập hoặc tổ chức hoạt động tại văn phòng công chứng thứ hai

Trong điều kiện nước ta hiện nay, việc tổ chức hành nghề công chứng và công chứng viên thực hiện chức năng chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng giao dịch, bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài và từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt bảo đảm thuận lợi cho giao dịch được thực hiện một cách nhanh chóng là đúng, đồng thời quy định trên cũng phù hợp với nguyên tắc của Liên minh công chứng thế giới mà Việt Nam là thành viên.

Đề nghị xem xét quy định nguyên tắc hành nghề công chứng không vì mục đích lợi nhuận tại Khoản 3, Điều 4 dự thảo luật là không phù hợp. Bởi lẽ Văn phòng công chứng hoạt động theo pháp luật về doanh nghiệp, việc cung cấp dịch vụ vẫn có yếu tố lợi nhuận để duy trì hoạt động. Mặt khác, hành nghề công chứng hoạt động không vì mục đích lợi nhuận sẽ mâu thuẫn với quy định cho phép chuyển nhượng Văn phòng công chứng, nếu không có lợi nhuận thì sẽ không có việc chuyển nhượng hay chuyển đổi để bảo đảm phù hợp với chức năng xã hội của công chứng viên.

Đối với các hành vi bị nghiêm cấm, tại Điều 7, đề nghị xem xét quy định những người thân thích tại Điểm c, Khoản 1, Điều 4. Tại Điểm c, Khoản 1 điều này có mở rộng đối tượng là anh, chị em ruột của vợ hoặc chồng, cháu là con của con đẻ, con nuôi nhưng lại thiếu đối tượng có quan hệ với bản thân công chứng viên là bác, chú, cô, cậu, dì ruột, anh chị em nuôi. Nếu không bổ sung các đối tượng nêu trên vào các hành vi bị nghiêm cấm thì vô hình trung tạo khe hở trong luật gây khó khăn trong việc áp dụng khi luật có hiệu lực pháp luật, vì những người thân thích này cũng có ảnh hưởng nhất định đến công chứng viên.

Đồng thời cần xem xét bổ sung tại Điểm i, Khoản 1 điều này quy định rõ: công chứng viên không được tham gia thành lập hoặc tổ chức hoạt động tại văn phòng công chứng thứ hai, tránh tình trạng công chứng viên tham gia nhiều văn phòng công chứng, xảy ra trường hợp thông đồng trong hoạt động công chứng.

Về độ tuổi hành nghề của công chứng viên tại Điều 35, tôi thống nhất với loại ý kiến thứ nhất, vì công chứng viên là lao động trí óc mang tính chuyên môn cao, việc không quy định độ tuổi sẽ tạo điều kiện tốt trong việc sử dụng những người có trình độ chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ, nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực. Nếu bảo đảm sức khỏe để hành nghề theo quy định tại Điểm đ, Khoản 1, Điều 8 là được.

ĐBQH Bùi Văn Xuyền (Thái Bình):  Công chứng viên phải chịu trách nhiệm về tính xác thực cũng như tính hợp pháp của hợp đồng giao dịch và bản dịch

Tôi đồng ý với sự cần thiết mở rộng thẩm quyền của công chứng viên được công chứng bản dịch giấy tờ từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài và ngược lại để góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng bản dịch, tạo thuận lợi cho người dân và cũng đồng tình với loại ý kiến thứ nhất là công chứng viên thực hiện công chứng và chịu trách nhiệm về tính xác thực, cũng như tính hợp pháp của giấy tờ được dịch như quy định tại Khoản 1, Điều 2 của dự thảo luật với các lý do sau: thứ nhất, phù hợp với tính chất của công chứng Việt Nam là công chứng về nội dung, không phải công chứng về hình thức. Công chứng viên phải chịu trách nhiệm về tính xác thực cũng như tính hợp pháp của hợp đồng giao dịch và bản dịch là hợp pháp, là đúng. Thứ hai, gắn kết trách nhiệm giữa công chứng viên với người dịch. Từ đó công chứng viên phải lựa chọn dịch giả, tức là người dịch có năng lực, trình độ, có uy tín để cùng làm việc và khuyến khích các công chứng viên có trình độ về ngoại ngữ, có thể cùng tham gia vào kiểm soát các hoạt động của người dịch, góp phần nâng cao chất lượng của bản dịch công chứng. Trường hợp công chứng viên không yên tâm có thể từ chối và người yêu cầu bản dịch có thể lựa chọn để việc chứng thực tại các phòng tư pháp và các phòng tư pháp vẫn thực hiện chứng thực song song theo tinh thần Nghị định 79/2007 như hiện nay và như vậy sẽ đạt được 2 mục đích vừa nâng cao chất lượng công chứng, chứng thực của bản dịch, vừa tạo thuận lợi cho người dân.

Về việc giao cho công chứng viên thực hiện việc chứng thực bản sao giấy tờ, tài liệu trong phạm vi hồ sơ mà công chứng viên đang làm, tôi cũng rất băn khoăn và chưa đồng thuận cao. Có mấy lý do: thứ nhất là việc công chứng và chứng thực cũng đã được xác định. Việc chứng thực được xác định là một công việc của cơ quan hành chính và đã được tách ra và phân cấp cho cấp xã từ năm 2006, 2007 đến nay khi thực hiện việc xây dựng Luật Công chứng năm 2006 và Nghị định 79 năm 2007 và công việc này thì UBND các xã đang làm rất tốt, không có vấn đề gì ách tắc lắm và thực sự đã giải tỏa những ách tắc của các phòng công chứng trước đây. Nếu quay trở về cho công chứng viên thực hiện các nội dung chứng thực thì tôi cũng e ngại là với năng lực hiện nay của các văn phòng công chứng không thể đáp ứng được yêu cầu của việc chứng thực và tái diễn tình trạng ùn tắc như ngày xưa thì rất phức tạp, chưa chắc đã tạo được thuận lợi mà còn gây khó khăn thêm cho người dân. Thứ hai khi các cơ quan, tổ chức tiếp nhận hồ sơ công dân cũng hay “sính” việc công chứng, do vậy thường yêu cầu người dân phải công chứng hơn là chứng thực và người dân lại phải đi công chứng các bản sao giấy tờ, chứ không phải chứng thực tại UBND xã cũng gây khó khăn cho người dân. Việc không giao hết nội dung chứng thực bản sao mà chỉ trong phạm vi hồ sơ công chứng mà công chứng viên đang thực hiện cũng gây ra những khó khăn. Cơ sở nào để xác định rằng công chứng chỉ được chứng thực các bản sao trong phạm vi hồ sơ thôi, thế còn có chứng thực bên ngoài không, làm căn cứ nào cho công tác thanh tra, kiểm tra sau này? Do vậy, tôi rất băn khoăn nội dung này...

Minh Vân lược ghi
Nguồn:daibieunhandan.vn
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Tin mới















Thăm dò ý kiến

Đánh giá thái độ phục vụ của công chức Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ

Thoải mái, dễ chịu, vui vẻ

Hướng dẫn tận tình, chu đáo

Hướng dẫn thờ ơ, qua loa

Ý kiến khác

Phóng sự giao trả hồ sơ tận nhà trên lĩnh vực Hộ tịch