Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng nhì

UBND phường An Sơn dẫn đầu phong trào thi đua Quý 1 năm 2020

UBND phường Hòa Thuận dẫn đầu phong trào thi đua năm 2019






















:::Thống kê:::

  • Đang truy cập: 0
  • Hôm nay: 624
  • Tháng hiện tại: 249907
  • Tổng lượt truy cập: 18785672

Một trong những nét mới theo Hiến pháp năm 2013: bổ sung quyền thu thập chứng cứ cho người bào chữa, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử và quyền của người bị buộc tội được Tòa án xét xử công bằng

Đăng lúc: Thứ tư - 17/09/2014 11:12 - Người đăng bài viết: Tuphaptamky
Diện mạo đời sống tố tụng ở nước ta đã và đang có những bước chuyển biến rõ rệt, với khuôn khổ pháp lý ngày càng hoàn thiện, tạo nền tảng cho các chủ thể thực hiện các chức năng buộc tội, gỡ tội và xét xử. Luật sư là một trong những mắt xích quan trọng để thực hiện một trong ba chức năng này, bởi vậy việc tăng cường thẩm quyền cho họ trong quá trình thu thập, hỗ trợ thu thập và đánh giá chứng cứ là cần thiết và không kém phần quan trọng so với những chế định khác về khởi tố, điều tra trong dự án Bộ luật Tố tụng hình sự.

Có thể khẳng định, cùng với việc xác định quyền bào chữa là quyền hiến định, phù hợp với Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế mà Việt Nam đã tham gia và ký kết, quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật liên quan đến bảo đảm quyền bào chữa đã được Đảng và Nhà nước quan tâm đúng mức. Bộ Chính trị đã ban hành các Nghị quyết số 08 và Nghị quyết số 49 liên quan đến một số nhiệm vụ trọng tâm và chiến lược cải cách tư pháp. QH đã thông qua Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Luật Luật sư năm 2006...

Với khuôn khổ pháp lý như vậy, tỷ lệ luật sư tham gia tố tụng trong các vụ án hình sự đã có xu hướng tăng. Theo thống kê của Bộ Tư pháp, trong 5 năm từ 2007 đến 2011, đội ngũ luật sư đã tham gia hơn 64 nghìn vụ án hình sự. Số liệu này cũng tương đối phù hợp với với báo cáo của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao cùng thời điểm, trong đó luật sư đã tham gia hơn 64 nghìn vụ án trên tổng số hơn 299 nghìn vụ án hình sự. Sự tham gia tích cực của các luật sư trong các giai đoạn tố tụng hình sự là cơ sở thực tiễn cho việc Đảng ta đưa ra định hướng quan trọng nhằm thúc đẩy và bảo đảm việc tranh tụng giữa Kiểm sát viên và Luật sư, bước đầu hình thành cơ chế phán quyết của Tòa án phải xuất phát từ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. 

Dẫu vậy, thực trạng thi hành các quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự về bảo đảm quyền bào chữa còn một số bất cập, vướng mắc, hạn chế phần nào việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, quyền hành nghề của luật sư. Vai trò, trách nhiệm của luật sư trong thu thập chứng cứ chưa được quy định cụ thể và rõ ràng, ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án, đến khả năng tiếp cận công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp. 

Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành quy định về chứng cứ và chứng minh tại Chương V với 16 điều luật. Thể chế hóa các yêu cầu của cải cách tư pháp và Hiến pháp năm 2013, trên cơ sở kết quả tổng kết 10 năm thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước, dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự về nội dung này theo hướng quy định rành mạch các vấn đề về chứng cứ và chứng minh, thiết kế thành hai mục: Mục I – Chứng cứ và Mục II – Chứng minh. Để phù hợp với yêu cầu tăng cường tranh tụng theo Hiến pháp mới, dự thảo quy định quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa và cách thức người bào chữa thu thập chứng cứ; người bào chữa có quyền đánh giá chứng cứ do cơ quan tiến hành tố tụng thu thập; đối với những người tham gia tố tụng khác, ngoài quyền đưa ra tài liệu, đồ vật như quy định hiện hành, dự thảo bổ sung cho họ quyền đưa ra chứng cứ (Điều 82 và Điều 85). Đồng thời bỏ quy định chỉ cơ quan tiến hành tố tụng mới có quyền sử dụng chứng cứ (Điều 67).

Dự thảo cũng bổ sung 3 nguồn chứng cứ để phù hợp với thực tiễn giải quyết vụ án hình sự thời gian qua gồm: lời khai của người bị tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố; kết luận định giá tài sản; kết quả thực hiện ủy thác tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp (Điều 67). Bổ sung khái niệm về chứng minh và quy định các yêu cầu đối với hoạt động chứng minh (Điều 79)... 

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành và các văn bản hướng dẫn thì quyền thu thập, đưa ra, giao nộp tài liệu, đồ vật, tình tiết có liên quan đến vụ án của luật sư được thể hiện thông qua việc tham gia vào việc lấy lời khai của người bị tạm giữ, hỏi cung bị can; tham gia vào một số hoạt động điều tra khác như đối chất, nhận dạng, khám xét, thực nghiệm điều tra, khám nghiệm hiện trường; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa; gặp người bị tạm giữ; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam; đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật...

Tuy nhiên, trong Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản dưới luật, liên quan đến việc thu thập chứng cứ của luật sư đã cho thấy một số vướng mắc. Chứng cứ là những gì có thật dùng để làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự. Chứng cứ được xác định bằng nhiều nguồn khác nhau, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Thuộc tính của chứng cứ là phản ánh hiện thực khách quan, lưu giữ những thông tin có giá trị chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội. Song không phải tất cả những gì có liên quan đến sự kiện phạm tội, do ai thu thập và cung cấp cũng được coi là chứng cứ, mà chứng cứ phải được xác định, thu thập theo quy định của pháp luật. Điểm mấu chốt trong Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành quy định: cơ quan có thẩm quyền thu thập chứng cứ là cơ quan tiến hành tố tụng hình sự gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Theo các quy định này, người tham gia tố tụng cũng như người bào chữa (luật sư) không được xác định là người có thẩm quyền thu thập chứng cứ. Họ chỉ có quyền thu thập và đưa ra một trong những nguồn của chứng cứ là tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến vụ án. Mặt khác, khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của luật sư tham gia tố tụng hình sự, luật sư còn bị hạn chế về vai trò, trách nhiệm trong việc thu thập chứng cứ. 

Trong tố tụng hình sự, chức năng gỡ tội luôn tồn tại độc lập và đối trọng với chức năng buộc tội như một tất yếu khách quan. Với bản chất dân chủ, pháp luật tố tụng hình sự của Nhà nước ta ghi nhận quyền được bào chữa (gỡ tội) của người bị buộc tội như một nguyên tắc cơ bản, coi đây là quyền hiến định. Khoản 4, Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định: Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Để khắc phục những hạn chế liên quan đến việc thu thập và giao nộp tài liệu, đồ vật của người bào chữa, một số ý kiến tham dự Hội thảo hoàn thiện chế định chứng cứ và chứng minh, khởi tố, điều tra trong dự án Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi do Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức đầu tháng 9 vừa qua, đề nghị trong sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự lần này cần quy định rõ ràng và mang tính nguyên tắc về quyền thu thập và hỗ trợ thu thập chứng cứ của luật sư. Xét về bản chất, vị trí, vai trò của luật sư trong tố tụng hình sự được quyết định bởi nguyên tắc tôn trọng quyền bào chữa của người bị buộc tội (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo). Với vai trò như vậy, vị trí của luật sự cần được xác định là chủ thể tư pháp độc lập thực hiện chức năng cơ bản trong tố tụng hình sự là chức năng bào chữa, trợ giúp pháp lý cho người bị buộc tội và góp phần làm cho quá trình giải quyết vụ án hình sự được khách quan, toàn diện. 

Trong bản Thuyết minh Những nội dung sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự, đại diện cơ quan soạn thảo cho biết hiện đang có hai loại ý kiến về quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa và những người khác tham gia tố tụng. Theo đó loại ý kiến thứ nhất đề nghị giữ như quy định hiện hành, quyền thu thập chứng cứ chỉ thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác chỉ có quyền thu thập tài liệu, đồ vật. Loại ý kiến thứ hai cho rằng, để đáp ứng yêu cầu tăng cường tranh tụng, cần quy định người bào chữa có quyền thu thập chứng cứ và những người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra chứng cứ. Từ góc nhìn thực tiễn, đại diện cơ quan soạn thảo nghiêng về loại ý kiến thứ hai. Lý lẽ là bởi bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, bảo đảm quyền của người bị buộc tội được Tòa án xét xử công bằng là yêu cầu của Hiến pháp năm 2013. Yêu cầu này đòi hỏi người bị buộc tội và người bào chữa của họ phải được bình đẳng trong việc chứng minh, do đó phải có quyền thu thập, cung cấp chứng cứ. Đây cũng là cách làm của Bộ luật Tố tụng hình sự nhiều nước như Nga, Trung Quốc, Đức, Nhật Bản... Song để bảo đảm các yêu cầu của chứng cứ về tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp, dự thảo Bộ luật lần này sửa theo hướng quy định người bào chữa có quyền thu thập chứng cứ, đồng thời quy định cụ thể các cách thức người bào chữa thu thập chứng cứ và những người tham gia tố tụng có quyền đưa ra chứng cứ (Điều 82).

Dự án Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) mới đang ở giai đoạn cày vỡ, lấy ý kiến đóng góp của các đối tượng và cơ quan có liên quan để xây dựng dự thảo. Trước khi trình QH Khóa XIII cho ý kiến tại Kỳ họp thứ Chín và thông qua tại Kỳ họp thứ Mười theo chương trình lập pháp năm 2015 đã được thông qua, dự án luật này sẽ trải qua nhiều khâu theo quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.

Muốn thực hiện được chức năng gỡ tội, cụ thể hóa quyền bào chữa và nhờ luật sư bào chữa cũng như nguyên tắc tranh tụng quy định trong Hiến pháp 2013, luật sư phải được quyền thu thập chứng cứ, đưa ra những tài liệu, đồ vật hoặc tình tiết khác có liên quan đến vụ án mà khi đánh giá, cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận đó là chứng cứ chứng minh người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự ở mức độ nhẹ hơn. Xác lập quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa là một trong những nội dung cốt lõi trong kiến nghị sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự lần này của Liên đoàn luật sư Việt Nam. Quyền kiến nghị là của đối tượng điều chỉnh. Quyền xem xét, thông qua các điều luật là của QH. Tin rằng với thực tiễn khách quan và nhu cầu về sự cần thiết sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản quan niệm về thu thập chứng cứ và quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa, QH, các cơ quan có liên quan của QH sẽ có sự nghiên cứu, tiếp thu, điều chỉnh để tìm ra phương án tối ưu nhất. Mục tiêu hướng tới là cụ thể hóa đúng tinh thần, tư tưởng tiến bộ của Hiến pháp năm 2013: bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, bảo đảm quyền của người bị buộc tội được Tòa án xét xử công bằng, góp phần để Tòa án nhân dân thực hiện ngày càng hiệu quả, chất lượng nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Quỳnh Nga
Nguồn:daibieunhandan.vn

XEM BÀI GIẢNG TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT TẠI ĐÂY

XEM VIDEO HƯỚNG DẪN THỂ THỨC, KỸ THUẬT TRÌNH BÀY VĂN BẢN HÀNH CHÍNH

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Tin mới

Thăm dò ý kiến

Đánh giá thái độ phục vụ của công chức Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ

Thoải mái, dễ chịu, vui vẻ

Hướng dẫn tận tình, chu đáo

Hướng dẫn thờ ơ, qua loa

Ý kiến khác

Bài giảng Luật An ninh mạng và quy tắc ứng xử trên mạng xã hội