Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng nhì

UBND phường An Sơn dẫn đầu phong trào thi đua Quý 1 năm 2020

UBND phường Hòa Thuận dẫn đầu phong trào thi đua năm 2019






















:::Thống kê:::

  • Đang truy cập: 0
  • Hôm nay: 2265
  • Tháng hiện tại: 221120
  • Tổng lượt truy cập: 18466422

Dự thảo Luật Tổ chức chính quyền địa phương Chính quyền địa phương phải được tự chủ, tự chịu trách nhiệm và chịu sự giám sát chặt chẽ của dân

Đăng lúc: Thứ sáu - 01/08/2014 14:02 - Người đăng bài viết: Tuphaptamky
Dự án Luật Tổ chức chính quyền địa phương sẽ được trình QH cho ý kiến tại Kỳ họp thứ Tám. Đây là một trong những dự án Luật quan trọng về tổ chức bộ máy Nhà nước sau khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực thi hành. Các chuyên gia khuyến nghị: chính quyền địa phương sẽ hoạt động hiệu quả hơn khi được tự quản, tự chủ và tự chịu trách nhiệm hơn trong các vấn đề thuộc phạm vi của địa phương. Song song với nguyên tắc này, cần phải có cơ chế để nhân dân giám sát chặt chẽ hoạt động của chính quyền, bảo đảm mọi hoạt động của chính quyền địa phương đều vì lợi ích của đại bộ phận người dân địa phương.
Chính quyền địa phương là vấn đề đặc biệt quan trọng trong tổ chức bộ máy của mỗi quốc giađược ghi nhận trong Hiến pháp và trong các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước. Việc nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện tổ chức chính quyền địa phương tuy không phải là vấn đề mới, song, đây là một vấn đề khó khăn và phức tạp không chỉ với Việt Nam mà đối với rất nhiều nước khác trên thế giới. Thời gian qua, ở nước ta, vấn đề đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, tổ chức chính quyền địa phương đã được đặt ra từ khi sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 vào năm 2001 nhưng vẫn chưa được giải quyết triệt để, còn nhiều ý kiến khác nhau, đến Hiến pháp năm 2013 mới được quy định thành một Chương riêng và hiến định đầy đủ các nguyên tắc tổ chức của chính quyền địa phương.

Hiện nay, trên cơ sở các nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến pháp, các cơ quan chức năng đã và đang xây dựng dự thảo Luật Tổ chức chính quyền địa phương để kịp trình QH cho ý kiến lần đầu tại Kỳ họp thứ Tám tới. Đây là một trong những dự thảo Luật nhận được nhiều sự quan tâm của các chuyên gia, nhà nghiên cứu cũng như đại bộ phận người dân. Dự thảo Luật Tổ chức chính quyền địa phương được xây dựng trên cơ sở kế thừa Luật Tổ chức HĐND và UBND.

Để phục vụ việc hoàn thiện dự thảo Luật Tổ chức chính quyền địa phương, vừa qua, Ủy ban Pháp luật và VPQH cùng Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) đã phối hợp tổ chức Hội thảo Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương – nhìn từ kinh nghiệm Nhật Bản để tìm hiểu những kinh nghiệm thực tiễn trong nghiên cứu, xây dựng, triển khai và cụ thể hóa quy định của Hiến pháp Nhật Bản năm 1946 về chính quyền địa phương vàviệc phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn giữa chính quyền Trung ương và địa phương, cũng như quá trình xây dựng, triển khai thi hành các đạo luật liên quan đến nội dung chính quyền địa phương.

Theo báo cáo nghiên cứu của Học viện Hành chính Quốc gia Việt Nam và Đại học Chuo Nhật Bản, tư cách pháp lý của chính quyền địa phương của Nhật Bản và Việt Nam đều được pháp luật xác định. Tuy nhiên, khác với Việt Nam, ở Nhật Bản, Hiến pháp Nhật Bản năm 1946 và Luật Tự quản địa phương đã cơ bản trao cho chính quyền địa phương một tư cách pháp lý rõ ràng và không có pháp luật nào có thể tác động đến nguyên tắc cơ bản về tự quản đó. Bên cạnh đó, các đạo Luật chuyên ngành như Luật Công vụ địa phương, Luật Tài chính địa phương, Luật Thuế địa phương được Nhật Bản ban hành cùng mục đích: xác lập rõ tính tự chủ, tự quản của chính quyền địa phương. Chẳng hạn, chính quyền địa phương có quyền tự ban hành điều lệ nhằm bảo vệ, giữ gìn trật tự an ninh, an toàn xã hội và thúc đẩy các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương đó. Ngoài ra, chính quyền địa phương còn được quyền tự chủ về thuế, quyết định việc thu thuế một cách độc lập.

Đại diện Cục Pháp chế - Hạ viện Nhật Bản cho biết, trước khi Hiến pháp Nhật Bản năm 1946 ra đời, không có văn bản quy phạm pháp luật nào của Nhật Bản có quy định về tự quản địa phương, chính quyền địa phương. Sự ra đời của Hiến pháp năm 1946 với việc dành một chương quy định về tự quản địa phương đã cơ bản thể hiện rõ việc phân định quyền lực và nhiệm vụ giữa chính quyền Trung ương và chính quyền tự quản địa phương ở Nhật Bản. Cụ thể, về bảo đảm bản chất của tự quản địa phương, Điều 92 của Hiến pháp Nhật Bản quy định: Những vấn đề liên quan đến tổ chức và vận hành bộ máy chính quyền địa phương sẽ được quy định bởi pháp luật dựa trên bản chất của tự quản địa phương. Về bộ máy chính quyền địa phương, Điều 93 quy định: Hội đồng sẽ được thành lập trong bộ máy chính quyền địa phương với tư cách là cơ quan nghị sự dựa trên quy định của luật. Người đứng đầu chính quyền địa phương, nghị sỹ Hội đồng và các quan chức khác sẽ do người dân địa phương đó trực tiếp bầu ra theo luật định. Về chức năng của chính quyền địa phương, Điều 94 nêu rõ: Chính quyền địa phương có quyền quản lý tài sản, xử lý các công việc của địa phương, thực thi quản lý hành chính và ban hành Điều lệ trong phạm vi luật định. Và, các quy định của Hiến pháp về chính quyền địa phương đã được cụ thể hóa bằng các đạo Luật của Nhật Bản như: Luật Tự quản địa phương, Luật Tài chính địa phương, Luật Thuế địa phương, Luật Cấp thuế cho địa phương, Luật Công chức địa phương...

Luật Tự quản địa phương của Nhật Bản đã quy định các nguyên tắc cơ bản trong việc phân chia quyền lực, nhiệm vụ giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương.Thứ nhất, chính quyền Trung ương đảm nhiệm những việc bắt buộc phải do Trung ương thực hiện như ngoại giao, an ninh, quốc phòng... Thứ hai, những công việc ở địa phương trước hết phải được thực hiện bởi các chính quyền cấp cơ sở (thành phố/huyện/xã). Thứ ba, chính quyền địa phương quy mô lớn (cấp đô/đạo/phủ/tỉnh) thực hiện những nhiệm vụ mà chính quyền cấp cơ sở không thực hiện được. Thêm vào đó, Luật Tự quản địa phương Nhật Bản chỉ quy định việc phân chia quyền lực, nhiệm vụ chung, còn việc phân chia quyền lực và nhiệm vụ cụ thể được quy định bằng các đạo luật thuộc lĩnh vực tương ứng và thực hiện theo hình thức phân chia đa tầng – phân chia một nhiệm vụ đến nhiều cấp từ Trung ương đến cấp cơ sở. Chẳng hạn, cơ cấu tổ chức quản lý ngành giáo dục được quy định trong Luật Quản lý giáo dục địa phương. Giáo dục bắt buộc (tiểu học, trung học) chủ yếu do cấp thành phố/huyện/xã đảm nhiệm; giáo dục phổ thông trung học/cao đẳng chủ yếu do cấp đô/đạo/phủ/tỉnh đảm nhiệm và cấp Trung ương đảm nhiệm cấp đại học (Bộ Giáo dục khoa học).

Tại Nhật Bản, việc phân chia quyền hạn, nhiệm vụ trong mỗi lĩnh vực quản lý hành chính được thực hiện theo chủ nghĩa ứng dụng thực tế. Việc phân chia quyền hạn, nhiệm vụ về mặt tổ chức (ai làm) và quyền quyết định các quy tắc cụ thể khi thực hiện (làm gì và làm như thế nào) được quy định riêng biệt trong các luật chuyên ngành tương ứng và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan. Việc lập dự án kế hoạch cho các chính sách và chế độ mới do chính quyền Trung ương đảm nhiệm, thi hành là công việc của chính quyền địa phương.

Ở nước ta, Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBND được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định (Điều 111). Chính quyền địa phương tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương; quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên. Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương. Trong trường hợp cần thiết, chính quyền địa phương được giao thực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên với các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó (Điều 112).

Các quy định này là cơ sở để cụ thể hóa về nguyên tắc tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Phạm vi điều chỉnh của dự án Luật Tổ chức chính quyền địa phương rất rộng, bao gồm việc xác định đơn vị hành chính; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh các đơn vị hành chính; xác định mô hình tổ chức cụ thể của từng cấp chính quyền địa phương phù hợp với đặc điểm nông thôn, miền núi, hải đảo; nhiệm vụ, quyền hạn của từng cấp chính quyền địa phương... Trong đó, một trong những nội dung được đề cập và quan tâm nhất hiện nay là phân định nhiệm vụ, quyền hạn giữa Trung ương và địa phương như thế nào cho phù hợp với yêu cầu phát triển hiện nay của nước ta.

Nghiên cứu của Học viện Hành chính quốc gia Việt Nam và Đại học Chuo Nhật Bản cho thấy, Việt Nam hiện chưa có một đạo luật chung quy định về việc phân định nhiệm vụ, thẩm quyền giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương. Luật Tổ chức HĐND và UBND hiện hành tuy đã có đề cập nhưng chưa cụ thể, nhất là quy định về tính tự chủ, tự quyết các vấn đề của chính quyền địa phương. Với cách tiếp cận này, chính quyền địa phương trở thành một bộ phận của chính quyền Trung ương mà không thể hiện được tính độc lập và vẫn lệ thuộc nhiều vào Trung ương. Đây có thể được coi là gánh nặng về mặt quản lý hành chính cho cả chính quyền Trung ương cũng như địa phương. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương của Việt Nam dường như vẫn lệ thuộc nhiều vào chính quyền Trung ương, nhất là trong việc xem xét cơ cấu, tổ chức; và chỉ có một quy định chung tổng thể và còn cứng nhắc về cơ cấu tổ chức cho mọi loại chính quyền địa phương, từ thành phố đến nông thôn. Vì thế, sau nhiều năm thi hành Luật Tổ chức HĐND và UBND, chúng ta vẫn đang cố gắng phân định rõ nhiệm vụ, quyền lực giữa chính quyền địa phương với chính quyền Trung ương, cũng như giữa chính quyền địa phương các cấp với nhau. Tình trạng này cũng có thể thấy khi xem xét các vấn đề về tổ chức cán bộ hoặc ngân sách. Khác với Nhật Bản, Việt Nam tuy đã có đạo luật chung là Luật Cán bộ, công chức quy định về cán bộ ở cả Trung ương và địa phương nhưng lại vẫn có những văn bản dưới luật quy định riêng đối với công chức làm việc tại chính quyền địa phương. Điều đó cho thấy, hệ thống công chức và công vụ của Việt Nam vẫn chưa tạo được một chỉnh thể thống nhất từ Trung ương đến cơ sở. Hay trong lĩnh vực ngân sách thì việc cấp thuế cho địa phương ở nước ta hiện vẫn chưa được luật hóa, chủ yếu thực hiện theo nguyên tắc thuế thống nhất và thông qua thuế để điều chỉnh lại cho địa phương. Tuy Luật Ngân sách Nhà nước quy định Việt Nam có 4 cấp ngân sách, song, vấn đề ngân sách địa phương của nước ta vẫn mang tính tập quyền cao từ chính quyền Trung ương, tính tự chủ, tự quyết của chính quyền địa phương trong lĩnh vực này hiện nay còn hạn chế.

Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa X) của Trung ương đã chỉ ra tính tất yếu phải tổ chức lại chính quyền địa phương trên những nguyên tắc mà các quốc gia trong đó có Nhật Bản đang vận dụng. Đó là phải phân định cụ thể giữa chính quyền đô thị và nông thôn; tổ chức lại hệ thống chính quyền địa phương và nhấn mạnh việc phân cấp trong quản lý thực thi quyền hành pháp của chính quyền địa phương từng cấp. Và việc phân quyền cho chính quyền địa phương cũng là một đòi hỏi tất yếu của tất cả các quốc gia. Đại diện cơ quan thẩm tra dự án Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Phó chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Lê Minh Thông cho rằng, việc phân định quyền hạn giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương cần phải bảo đảm được bốn yêu cầu. Thứ nhất, phân định nhiệm vụ, quyền hạn phải vừa bảo đảm được quyền kiểm soát của Trung ương nhưng vẫn bảo đảm được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của địa phương. Thứ hai, phải xác định cụ thể công việc của chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương. Thứ ba, xác định cụ thể công việc của từng cấp chính quyền địa phương và từng bộ phận cấu thành chính quyền địa phương. Thứ tư, việc phân định về thẩm quyền phải gắn liền với phân cấp về ngân sách và quản lý nhân sự.

Cùng quan điểm này, nhiều chuyên gia khuyến nghị, chính quyền địa phương sẽ hoạt động hiệu quả hơn khi được tự quản cao, nhất là đối với những vấn đề cơ bản của địa phương như về cơ cấu tổ chức, bộ máy, nhân sự, tài chính và những vấn đề thuộc phạm vi của địa phương, giảm dần sự can thiệp cũng như sự ủy quyền của chính quyền Trung ương đối với chính quyền địa phương. Nâng cao tính tự quản, tự chủ trong hoạt động của chính quyền địa phương cũng sẽ góp phần giảm gánh nặng cho chính quyền Trung ương. Tất nhiên, để tránh sự lạm quyền của chính quyền địa phương thì song song với cơ chế tự quản, tự chủ này, phải có cơ chế hiệu quả để nhân dân địa phương giám sát chặt chẽ hoạt động của chính quyền địa phương, bảo đảm mọi hoạt động công vụ của chính quyền địa phương đều xuất phát từ mong muốn, nguyện vọng của người dân và đều vì lợi ích của người dân địa phương.

Nguyễn Giang
Nguồn:daibieunhandan.vn

XEM BÀI GIẢNG TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT TẠI ĐÂY

XEM VIDEO HƯỚNG DẪN THỂ THỨC, KỸ THUẬT TRÌNH BÀY VĂN BẢN HÀNH CHÍNH

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Tin mới

Thăm dò ý kiến

Đánh giá thái độ phục vụ của công chức Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ

Thoải mái, dễ chịu, vui vẻ

Hướng dẫn tận tình, chu đáo

Hướng dẫn thờ ơ, qua loa

Ý kiến khác

Bài giảng Luật An ninh mạng và quy tắc ứng xử trên mạng xã hội