Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng nhì

UBND phường An Sơn dẫn đầu phong trào thi đua Quý 1 năm 2020

UBND phường Hòa Thuận dẫn đầu phong trào thi đua năm 2019






















:::Thống kê:::

  • Đang truy cập: 25
  • Khách viếng thăm: 21
  • Máy chủ tìm kiếm: 4
  • Hôm nay: 2800
  • Tháng hiện tại: 14776
  • Tổng lượt truy cập: 18550541

Hiểu một số nguyên tắc trong Điều 31 khi đưa Hiến pháp mới vào cuộc sống

Đăng lúc: Thứ hai - 19/05/2014 21:04 - Người đăng bài viết: Tuphaptamky
Tuân thủ chặt chẽ và thực hiện triệt để các nguyên tắc trong Điều 31 cùng những nguyên tắc khác của Hiến pháp 2013 là trách nhiệm, nghĩa vụ của Cơ quan điều tra, VKSND, TAND, góp phần tích cực đưa Hiến pháp vào cuộc sống.
Hiểu một số nguyên tắc trong Điều 31 khi đưa Hiến pháp mới vào cuộc sống

Hiểu một số nguyên tắc trong Điều 31 khi đưa Hiến pháp mới vào cuộc sống

Hiến pháp 2013 có rất nhiều chế định mới liên quan đến đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, nhất là chế định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân. Để con người thực sự được sống trong sự bảo hộ của luật pháp, Hiến pháp đã đưa ra những chế định hết sức chặt chẽ, cụ thể nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Trong số đó có chế định tại Điều 31 về những nguyên tắc áp dụng trong lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự nhằm bảo vệ con người trước vòng xoáy tố tụng hình sự mà các cơ quan bảo vệ pháp luật - đại diện cho Nhà nước thực hiện khi có tội phạm xảy ra. Cụ thể:

Điều 31.

1. Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật.

2. Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai. Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai.

3. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm.

4. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.

5. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật.

Xét về toàn bộ nội dung Điều 31 của Hiến pháp, chúng ta thấy đây là nội dung sửa đổi, bổ sung nội dung Điều 72 Hiến pháp 1992 theo hướng toàn diện, cụ thể và tiến bộ hơn. Nếu như Điều 72 Hiến pháp 1992 chỉ quy định về hai nội dung cơ bản là: không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; và, được bồi thường thiệt hại trong trường hợp oan, sai, người làm trái pháp luật trong việc áp dụng pháp luật hình sự phải bị xử lý nghiêm minh, thì đến Hiến pháp 2013 đã được phát triển, mở rộng thành 5 khoản với nhiều nội dung cụ thể.

Bản chất của Điều 31 Hiến pháp 2013 là sự thể hiện việc áp dụng nhiều nguyên tắc tiến bộ trong khoa học tố tụng hình sự vào quá trình giải quyết vụ án hình sự. Những nguyên tắc này là sự ghi nhận, kế thừa của Đảng và Nhà nước ta đối với những văn minh, tiến bộ của nhân loại, của dân tộc đã đạt được trong hàng nghìn năm đấu tranh vì quyền và tự do của con người.

Nguyên tắc suy đoán vô tội

Nguyên tắc này được quy định trong khoản 1. So sánh nội dung quy định này với phần thứ nhất Điều 72 Hiến pháp 1992, thấy có sự thay đổi như: cụm từ người bị buộc tội được coi là… thay cho cụm từ không ai bị coi là… và bổ sung cụm từ cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định. Đồng thời bỏ nội dung “và phải chịu hình phạt” trong Điều 72 Hiến pháp 1992. Nguyên tắc suy đoán vô tội chứa đựng ba nội dung cơ bản sau:

Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội có hiệu lực của Tòa án. Người bị buộc tội theo quy định trong khoa học luật tố tụng hình sự Việt Nam là những người bước đầu bị các cơ quan bảo vệ pháp luật tình nghi là đã thực hiện tội phạm, họ có thể chưa bị khởi tố về hình sự như người bị bắt, bị tạm giữ hoặc có thể đã bị khởi tố về hình sự như bị can, bị cáo. Điểm chung cơ bản ở đây là những người này ở những mức độ khác nhau đang bị cáo buộc là người thực hiện hành vi phạm tội và đang nằm trong vòng tố tụng hình sự, chịu sự điều tra của các cơ quan tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, những người này phải được luật pháp, những cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng khác coi là không có tội cho đến khi tội của họ được chứng minh theo trình tự tố tụng quy định của pháp luật và có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bị buộc tội có quyền nhưng không có trách nhiệm chứng minh sự vô tội của mình. Bất kỳ một tội phạm nào cũng đều xâm hại đến một quan hệ xã hội nhất định được luật hình sự bảo vệ. Do vậy, các cơ quan bảo vệ pháp luật là các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng (đại diện cho Nhà nước) có trách nhiệm, nghĩa vụ chứng minh tội phạm nhằm tìm ra người phạm tội để giáo dục, trừng phạt, thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tội phạm. Người bị buộc tội không có trách nhiệm, nghĩa vụ chứng minh mình vô tội, tức là họ không bị bắt buộc phải trình ra các chứng cứ ngoại phạm hoặc các chứng cứ khác để chứng minh với các cơ quan bảo vệ pháp luật rằng họ vô tội. Do vậy, người bị buộc tội có thể không hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thu thập chứng cứ chứng minh việc phạm tội của mình. Người bị buộc tội cũng có thể im lặng trong suốt quá trình chứng minh tội phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng. Những hành vi nêu trên của người bị buộc tội không thể được coi là vi phạm pháp luật và không phải chịu bất kỳ trách nhiệm pháp lý nào. Tuy nhiên, người bị buộc tội có quyền chứng minh về sự vô tội của mình thông qua việc đưa ra lời khai, qua người làm chứng hoặc vật chứng có lợi cho mình hoặc các hình thức hợp pháp khác. Trường hợp người bị buộc tội tự nguyện phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc làm rõ những chứng cứ, tình tiết của tội phạm, họ được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi áp dụng hình phạt.

Những nghi ngờ hoặc tranh cãi về pháp luật và chứng cứ được giải thích theo hướng có lợi cho người bị buộc tội. Quá trình tố tụng hình sự là những giai đoạn tiếp nối nhau và kết thúc bằng phiên tòa xét xử hình sự của Tòa án. Trong quá trình này, các cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét, giải quyết một loạt vấn đề để trả lời các câu hỏi: có tội phạm xảy ra hay không; ai là người thực hiện tội phạm; nguyên nhân, động cơ, mục đích của tội phạm; công cụ, phương tiện phạm tội; hậu quả của tội phạm…? Quá trình đi tìm sự thật khách quan đó không tránh khỏi khó khăn, vướng mắc khi có những nghi ngờ hoặc tranh cãi về pháp luật, chứng cứ. Do vậy, khi có nghi ngờ, tranh cãi về quy định của pháp luật, hoặc chứng cứ, thì theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội, những nghi ngờ đó được giải thích có lợi cho họ. Điều đó có nghĩa là những người tiến hành tố tụng phải sử dụng những quy định pháp luật, những chứng cứ theo hướng có lợi cho người bị buộc tội để họ được gỡ tội, chứng minh mình vô tội.

Nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai

Nguyên tắc này được quy định tại khoản 2, là sự kế thừa, phát triển của Hiến pháp 1992. Theo nguyên tắc này, người bị buộc tội đang bị các cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, truy tố về một hoặc nhiều hành vi phạm tội. Do vậy, họ rất cần và trông đợi vào sự phán quyết cuối cùng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đó là Tòa án về việc họ có phạm tội hay không, nếu có thì là tội gì, hình phạt nào được áp dụng…?; đồng thời người bị buộc tội cũng mong muốn được Tòa án, nhân danh nhà nước, công lý đem lại sự công bằng cho họ thông qua việc xét xử và được trình bày quan điểm bào chữa một cách công khai, mong muốn chấm dứt một quá trình tố tụng vô cùng căng thẳng và có nhiều thiệt hại.

Việc Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai là sự bảo đảm quyền lợi cho người bị buộc tội được xét xử trong một thời hạn nhất định, được hưởng sự công bằng như tất cả những người phạm tội khác và công khai trong một phiên tòa có nhiều cơ quan nhà nước cùng tham gia và nhiều người tham dự. Sự công bằng thể hiện ở việc tất cả người bị buộc tội đều được xét xử theo những quy định chung của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự Việt Nam. Phiên tòa hình sự được tiến hành công khai với sự tham dự không hạn chế của mọi người quan tâm. Chỉ trong những trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc theo yêu cầu chính đáng của người tham gia tố tụng thì Tòa án xét xử kín, nhưng phải tuyên án công khai. Tất cả nguyên tắc trên cho phép loại bỏ sự tùy tiện của Tòa án, những người tiến hành tố tụng trong việc kéo dài thời hạn xét xử, áp dụng pháp luật hoặc những thiên vị cá nhân trong quá trình xét xử.

Nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm

Nguyên tắc này lần đầu tiên được quy định trong một bản Hiến pháp của nước ta, tại khoản 3. Tuy nhiên, nội dung nhân đạo này đã được Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định tại Điều 107, khoản 4. Một người khi thực hiện một tội phạm tức là đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và gây ra thiệt hại đáng kể cho một quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Do đó, họ phải chịu trách nhiệm hình sự, hình phạt về tội phạm mà họ đã gây ra. Bản án đã tuyên (kết án) đã có hiệu lực pháp luật là sự thể hiện quan điểm của Nhà nước đối với hành vi phạm tội và trong trường hợp có tội, bản án đưa ra một hình phạt cụ thể trong hệ thống hình phạt của Bộ luật Hình sự để áp dụng đối với người phạm tội. Do vậy, người phạm tội khi đã bị xét xử về tội phạm do mình thực hiện và đã có bản án có hiệu lực pháp luật thì không phải chịu thêm bất kỳ một sự kết án nào khác về tội phạm đó. Trong trường hợp đã khởi tố, điều tra, truy tố về tội phạm trên thì vụ án phải được đình chỉ. Nguyên tắc này thể hiện sự nhân đạo, chính nghĩa, công bằng trong pháp luật hình sự.

Nguyên tắc người bị buộc tội có quyền bào chữa, được bào chữa

Nguyên tắc này được quy định tại khoản 4, bảo đảm cho người bị buộc tội có quyền được tự mình bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Quyền bào chữa, được bào chữa cho phép người bị buộc tội có chỗ dựa về pháp lý, tinh thần, kiến thức, niềm tin để công khai đứng ra bảo vệ mình, chống lại sự cáo buộc có tội của bên buộc tội. Người bị buộc tội có quyền bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa kể từ khi bị tạm giữ, bị khởi tố về hình sự, tức là từ khi có quyết định khởi tố bị can, trở thành bị can trong vụ án hình sự đến khi bị đưa ra xét xử, trở thành bị cáo. Đối với những vụ án mà hành vi phạm tội của bị can, bị cáo bị buộc vào tội phạm có mức hình phạt cao nhất là tử hình hoặc là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì bắt buộc phải có người bào chữa cho họ, cả trong trường hợp họ không thuê người bào chữa. Trường hợp này, trách nhiệm cử người bào chữa thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Ngoài ra, việc áp dụng nguyên tắc này bảo đảm cho việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật, việc buộc tội đối với bị can, bị cáo phải có căn cứ vững chắc và đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại trong trường hợp oan, sai và trách nhiệm của người làm oan, sai

Để bảo đảm những quy định của Hiến pháp, pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện triệt để, tránh việc buộc tội oan, sai, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của con người, khoản 5 Điều 31 Hiến pháp 2013 quy định việc bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự cho những người bị buộc tội, bị thi hành án oan, sai. Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại được áp dụng cho các đối tượng gồm người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo và người chấp hành án trong trường hợp họ bị áp dụng các biện pháp hình sự trái pháp luật. Trường hợp quyết định trái pháp luật thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh sau khi quyết định đó bị hủy bỏ bởi một quyết định khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc áp dụng quyết định hoặc hành vi trái pháp luật đã gây ra thiệt hại về vật chất, tinh thần hoặc danh dự cho người bị buộc tội, người chấp hành án. Mức độ thiệt hại nhiều hay ít tùy thuộc vào hành vi trái pháp luật hoặc quyết định và việc thực hiện quyết định trái pháp luật. Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng nhà nước bồi thường theo mức độ thiệt hại thực tế đã gây ra.

Ts Mai Đắc Biên
Nguồn:daibieunhandan.vn

XEM BÀI GIẢNG TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT TẠI ĐÂY

XEM VIDEO HƯỚNG DẪN THỂ THỨC, KỸ THUẬT TRÌNH BÀY VĂN BẢN HÀNH CHÍNH

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Tin mới

Thăm dò ý kiến

Đánh giá thái độ phục vụ của công chức Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ

Thoải mái, dễ chịu, vui vẻ

Hướng dẫn tận tình, chu đáo

Hướng dẫn thờ ơ, qua loa

Ý kiến khác

Bài giảng Luật An ninh mạng và quy tắc ứng xử trên mạng xã hội