Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng nhì

UBND phường Hòa Thuận dẫn đầu phong trào thi đua  năm 2018

UBND phường An Mỹ dẫn đầu phong trào thi đua Quý 1 năm 2019





















 

:::Thống kê:::

  • Đang truy cập: 70
  • Khách viếng thăm: 45
  • Máy chủ tìm kiếm: 25
  • Hôm nay: 13932
  • Tháng hiện tại: 189407
  • Tổng lượt truy cập: 13679511

Bản tin phổ biến giáo dục pháp luật số 01/2019 của Phòng Tư pháp Tam Kỳ

Đăng lúc: Thứ hai - 08/04/2019 09:15 - Người đăng bài viết: Tuphaptamky
Bi giảng tuyn truyền php luật
CLICK VAO DAY DE THI TIM HIEU PHAP LUAT - GIẢI THƯỞNG 6 TRIỆU ĐỒNG/ĐỢT
LỜI NÓI ĐẦU Thời gian qua, công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trên địa bàn thành phố đã được triển khai thường xuyên, đồng bộ từ thành phố đến xã phường, thôn khối phố bằng nhiều hình thức khác nhau, qua đó đã kịp thời thông tin, tuyên truyền các chính sách pháp luật tới cán bộ và nhân dân. Nhằm tiếp tục đa dạng hóa công tác phổ biến giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này đối với cán bộ và nhân dân, UBND thành phố đã chỉ đạo Phòng Tư pháp – cơ quan thường trực của Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật thành phố biên soạn tài liệu tuyên truyền để phục vụ cho công tác phổ biến giáo dục pháp luật..
Bản tin phổ biến giáo dục pháp luật số 01/2019 của Phòng Tư pháp Tam Kỳ

Bản tin phổ biến giáo dục pháp luật số 01/2019 của Phòng Tư pháp Tam Kỳ


Việc biên soạn tài liệu này, chúng tôi tham khảo nhiều tập san khác nhau ở trong và ngoài tỉnh. Tuy nhiên để phù hợp với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, đoàn viên, hội viên các đoàn thể và nhân dân trên địa bàn thành phố, chúng tôi rất mong  nhận được sự góp ý để tài liệu này thực sự cần thiết và hữu ích cho các phòng ban, ngành đoàn thể và địa phương.
Mọi góp ý xin gửi về địa chỉ:
Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ
70 Hùng Vương, Tam Kỳ, Quảng Nam
Điện thoại: 0235.3 851.772
Website: Http://tuphaptamky.gov.vn
 Email: tuphaptamky@yahoo.com.vn
Facebook: tuphaptamky
Fanpage: https://www.facebook.com/tuphaptamky.gov.vn/

PHẦN I
VĂN BẢN CHÍNH SÁCH MỚI
(Tổng hợp các văn bản được ban hành từ 01/01/2019-31/3/2019)
------
1.  Từ năm 2019: CBCCVC thực hiện 4 chuẩn mực văn hóa công vụ
4 chuẩn mức văn hóa công vụ mà cán bộ, công chức, viên chức phải thực hiện từ năm 2019 được  Chính phủ quy định tại Quyết định 1847/QĐ-TTg ngày 27/12/2018 về việc phê duyệt đề án văn hóa công vụ.
1. Tinh thần, thái độ làm việc của cán bộ, công chức, viên chức
Cán bộ, công chức, viên chức phải trung thành với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia; tôn trọng và tận tụy phục vụ Nhân dân. Khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ, cán bộ, công chức, viên chức phải ý thức rõ về chức trách, bổn phận của bản thân, bao gồm:
– Phải sẵn sàng nhận và nỗ lực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được phân công; không kén chọn vị trí công tác, chọn việc dễ, bỏ việc khó. Tâm huyết, tận tụy, gương mẫu làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao; không vướng vào “tư duy nhiệm kỳ”.
– Phải có ý thức tổ chức kỷ luật; sử dụng có hiệu quả thời giờ làm việc; tránh hiện tượng trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức; chủ động phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
– Không được gây khó khăn, phiền hà, vòi vĩnh, kéo dài thời gian xử lý công việc của cơ quan, tổ chức và người dân; không thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc của người dân.
– Cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo phải công tâm, khách quan trong sử dụng, đánh giá cán bộ thuộc quyền quản lý; không lợi dụng vị trí công tác để bổ nhiệm người thân quen; chủ động xin thôi giữ chức vụ khi nhận thấy bản thân còn hạn chế về năng lực và uy tín.
2. Chuẩn mực giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức
– Trong giao tiếp với người dân, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng, lắng nghe, tận tình hướng dẫn về quy trình xử lý công việc và giải thích cặn kẽ những thắc mắc của người dân. Thực hiện “4 xin, 4 luôn”: xin chào, xin lỗi, xin cảm ơn, xin phép; luôn mỉm cười, luôn nhẹ nhàng, luôn lắng nghe, luôn giúp đỡ.
– Đối với đồng nghiệp, cán bộ, công chức, viên chức phải có tinh thần hợp tác, tương trợ trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ; không bè phái gây mất đoàn kết nội bộ của cơ quan, tổ chức.
– Đối với lãnh đạo cấp trên, cán bộ, công chức, viên chức phải tuân thủ thứ bậc hành chính, phục tùng sự chỉ đạo, điều hành, phân công công việc của cấp trên; không trốn tránh, thoái thác nhiệm vụ; không nịnh bợ lấy lòng vì động cơ không trong sáng.
– Cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý không được duy ý chí, áp đặt, bảo thủ; phải tôn trọng, lắng nghe ý kiến của cấp dưới; gương mẫu trong giao tiếp, ứng xử.
3. Chuẩn mực về đạo đức, lối sống của cán bộ, công chức, viên chức
– Cán bộ, công chức, viên chức phải không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức, lối sống. Thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; trung thực, giản dị, thẳng thắn, chân thành; không có biểu hiện cơ hội, sống ích kỷ, ganh ghét, đố kỵ.
– Cán bộ, công chức, viên chức không được đánh bạc, sa vào các tệ nạn xã hội; không được sử dụng đồ uống có cồn trong thời gian làm việc và giờ nghỉ trưa; hút thuốc lá đúng nơi quy định; phải tuân thủ kỷ luật phát ngôn, không sử dụng mạng xã hội để khai thác, tuyên truyền các thông tin chưa được kiểm chứng, phiến diện, một chiều ảnh hưởng đến hoạt động công vụ.
– Cán bộ, công chức, viên chức phải tuân thủ chuẩn mực đạo đức gia đình và xã hội, thuần phong mỹ tục, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; không mê tín dị đoan và có những hành vi phản cảm khi tham gia lễ hội.
4.Trang phục của cán bộ, công chức, viên chức
Khi thực hiện nhiệm vụ, cán bộ, công chức, viên chức phải ăn mặc gọn gàng, lịch sự, đi giày hoặc dép có quai hậu. Trang phục phải phù hợp với tính chất công việc, đặc thù trang phục của ngành và thuần phong, mỹ tục của dân tộc. Đối với những ngành có trang phục riêng thì phải thực hiện theo quy định của ngành.
2. 13 tiêu chí đánh giá xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 06/QĐ-TTg Quy định tiêu chuẩn, trình tự đánh giá và công nhận xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em. Theo đó, tiêu chuẩn xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em gồm 13 tiêu chí với tổng số điểm tối đa là 1.000 điểm.
Cụ thể, 13 tiêu chí đánh giá, công nhận xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em bao gồm: 1- Nguồn lực thực hiện quyền trẻ em; 2- Trẻ em được khai sinh đúng quy định; 3- Trẻ em bị xâm hại; 4- Trẻ em vi phạm pháp luật, nghiện ma túy; 5- Trẻ em bị tai nạn, thương tích; 6- Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp; 7- Trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các lại vắc xin thuộc chương trình tiêm chủng mở rộng; 8- Trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thẻ nhẹ cân và thể thấp còi; 9- Trẻ em được khám sức khỏe định kỳ; 10- Trẻ em đến trường, lớp mần non; 11- Trẻ em được thực hiện quyền tham gia của trẻ em; 12- Hoạt động vui chơi, giải trí, văn hóa, thể dục, thể thao dành cho trẻ em; 13- Mức độ hài lòng của trẻ em và người dân về việc thực hiện quyền trẻ em.
3. Thưởng đến 5 triệu/lần cho người có thành tích xuất sắc trong phòng, chống ma túy
Ngày 22/01/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 04/2019/QĐ-TTg về việc thành lập, quản lý và sử dụng Quỹ phòng, chống tội phạm, có hiệu lực từ ngày 10/3/2019.
Quỹ Phòng, chống tội phạm là quỹ tài chính Nhà nước ngoài ngân sách, được thành lập ở Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để hỗ trợ cho công tác phòng, chống tội phạm. Trong đó, Quỹ phòng, chống tội phạm Trung ương do Bộ trưởng Bộ Công an quản lý, điều hành; Quỹ cấp tỉnh do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định thành lập và quản lý, điều hành.
Về nội dung chi, định mức chi của Quỹ, Thủ tướng quy định: Cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác phòng, chống tội phạm ma túy sẽ được thưởng đột xuất với mức tối đa 05 triệu đồng/người/lần khen thưởng và 20 triệu đồng/tập thể/lần khen thưởng.
4. Lãi suất trong họ, hụi, biêu phường có lãi không vượt quá 20%/năm
Ngày 19/02/2019, Chính phủ ban hành Nghị định 19/2019/NĐ-CP về họ, hụi, biêu, phường, có hiệu lực từ ngày 05/04/2019.
Theo đó, lãi suất trong họ có lãi do các thành viên của dây họ thỏa thuận hoặc do từng thành viên đưa ra để được lĩnh họ tại mỗi kỳ mở họ nhưng không vượt quá 20%/năm của tổng giá trị các phần họ phải góp trừ đi giá trị các phần họ đã góp trên thời gian còn lại của dây họ.
Trường hợp mức lãi suất giới hạn nói trên được điều chỉnh bởi cơ qun có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự thì áp dụng mức lãi suất giới hạn được điều chỉnh đó.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận hoặc do từng thành viên đưa ra để được lĩnh họ tại mỗi kỳ mở họ vượt quá lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định này thì mức lãi suất không có hiệu lực.
5. Quy định mới về giá tính lệ phí trước bạ nhà đất
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 20/2019/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 140/2016/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2016 của Chính phủ về lệ phí trước bạ, có hiệu lực 10/4/2019.

Theo đó, Giá tính lệ phí trước bạ đối với đất như sau:

Giá tính lệ phí trước bạ đối với đất là giá đất tại Bảng giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành theo quy định của pháp luật về đất đai tại thời điểm kê khai lệ phí trước bạ.
Trường hợp đất thuê của Nhà nước theo hình thức trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê đất nhỏ hơn thời hạn  của loại đất quy định tại Bảng giá đất do UBND tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương  ban hành thì giá đất của thời hạn thuê đất tính lệ phí trước bạ được xác định như sau:
Giá đất của thời hạn thuê đất tính lệ phí trước bạ = Giá đất tại Bảng giá đất x Thời hạn thuê đất
70 năm
Giá tính lệ phí trước bạ đối với nhà là giá do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành theo quy định của pháp luật về xây dựng tại thời điểm kê khai lệ phí trước bạ.
Riêng giá tính lệ phí trước bạ đối với nhà thuộc sở hữu nhà nước bán cho người đang thuê theo quy định của pháp luật về bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước là giá bán thực tế ghi trên hoá đơn bán nhà theo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Giá tính lệ phí trước bạ đối với nhà mua theo phương thức đấu giá theo quy định của pháp luật về đấu thầu, đấu giá là giá trúng đấu giá thực tế ghi trên hoá đơn bán hàng.
Trường hợp giá nhà, đất tại hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, hợp đồng mua bán nhà cao hơn giá do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành thì giá tính lệ phí trước bạ đối với nhà, đất là giá tại hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, hợp đồng mua bán nhà.
6. Thẩm quyền giải quyết tố cáo của Công an xã, Công an huyện
Ngày 25/01/2019, Chính phủ ban hành Nghị định 22/2019/NĐ-CPquy định về tố cáo và giải quyết tố cáo trong Công an nhân dân, có hiệu lực 15/4/2019.
Theo đó, thẩm quyền giải quyết tố cáo của Trưởng Công an xã, Trưởng công an cấp huyện như sau:
.-  Trưởng Công an phường, Trưởng đồn, Trưởng trạm Công an, Trưởng Công an thị trấn, Trưởng Công an xã thuộc biên chế của lực lượng Công an nhân dân (gọi chung là Trưởng Công an cấp xã) giải quyết tố cáo đối với cán bộ, chiến sĩ Công an thuộc quyền quản lý trực tiếp, trừ Phó Trưởng Công an cấp xã.
-  Trưởng Công an quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là Trưởng Công an cấp huyện) giải quyết tố cáo đối với Trưởng Công an cấp xã, Phó Trưởng Công an cấp xã và cán bộ, chiến sĩ từ Đội trưởng trở xuống, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của Trưởng Công an cấp xã; giải quyết tố cáo đơn vị Công an cấp xã, đội thuộc quyền quản lý trực tiếp
7. Năm 2019: Mức lãi suất cho vay ưu đãi mua nhà ở xã hội là 5%

Ngày 04/3/2019, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 255/QĐ-TTg  Về mức lãi suất cho vay ưu đãi của các tổ chức tín dụng do Nhà nước chỉ định theo quy định tại Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội.

Theo đó, mức lãi suất cho vay ưu đãi của các tổ chức tín dụng do Nhà nước chỉ định áp dụng trong năm 2019 đối với dư nợ của các khoản cho vay để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà để ở theo quy định tại Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội là 5%/năm.
Theo Nghị định số 100/2015/NĐ-CP, đối tượng được vay vốn ưu đãi để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà để ở là đối tượng quy định tại các Khoản 1, 4, 5, 6 và 7 Điều 49 của Luật Nhà ở, cụ thể:
– Người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng;
– Người thu nhập thấp, hộ nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị;
– Người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp;
– Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân và quân đội nhân dân;
– Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.
Các đối tượng trên được vay tối thiểu là 15 năm kể từ ngày giải ngân khoản vay đầu tiên. Trường hợp khách hàng có nhu cầu vay với thời hạn thấp hơn thời hạn cho vay tối thiểu thì được thỏa thuận với ngân hàng về thời hạn cho vay thấp hơn.

8. Thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi trong nước

Ngày 05/3/2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 24/2019/NĐ-CP  Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP  quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật nuôi con nuôi, có hiệu lực thi hành 25/4/2019.

Theo đó, thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi như sau:

Trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi; cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì UBND cấp xã nơi cư trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.
Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi chưa chuyển vào cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì UBND cấp xã nơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ em bị bỏ rơi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi; trường hợp trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì UBND cấp xã nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.

9. Sửa đổi quy định mức chi hỗ trợ xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 08/2019/TT-BTC ngày 30/01/2019 sửa đổi Thông tư 43/2017/TT-BTC về quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM 2016- 2020, có hiệu lực 18/3/2019
Theo đó, mức Chi hỗ trợ xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh được quy định như sau:
a) Đối với các hộ gia đình
- Hộ nghèo theo tiêu chí thu nhập, hộ nghèo tiếp cận đa chiều thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản về hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh, gia đình chính sách, hộ gia đình có người khuyết tật được ngân sách nhà nước hỗ trợ không quá 70% giá thành nhà tiêu hợp vệ sinh mẫu;
- Hộ nghèo tiếp cận đa chiều không thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản về hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh, hộ cận nghèo được ngân sách nhà nước hỗ trợ không quá 35% giá thành nhà tiêu hợp vệ sinh mẫu.
b) Đối với các đối tượng khác (trường học, trạm y tế xã): UBND cấp tỉnh quy định mức hỗ trợ cụ thể nhưng không quá 25% giá thành nhà tiêu hợp vệ sinh mẫu.
c) UBND cấp tỉnh hoặc cơ quan được UBND cấp tỉnh ủy quyền phê duyệt thiết kế mẫu và giá thành nhà tiêu hợp vệ sinh phù hợp với điều kiện của địa phương làm căn cứ hỗ trợ.
10. Quy định về điều kiện cơ sở nuôi trồng thủy sản
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 26/2019/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản, có hiệu lực 25/4/2019
Theo đó quy định về điều kiện cơ sở nuôi trồng thủy sản như sau:
+ Cơ sở vật chất đối với nuôi trồng thủy sản trong ao (đầm/hầm), bể
- Bờ ao (đầm/hầm) bể làm bằng vật liệu không gây ô nhiễm môi trường, không gây độc hại cho thủy sản nuôi, không rò rỉ nước; nơi chứa rác thải phải riêng biệt với nơi chứa, nơi xử lý thủy sản chết và tách biệt với khu vực nuôi, không làm ảnh hưởng đến môi trường.
- Trường hợp cơ sở nuôi trồng thủy sản có khu chứa trang thiết bị , dụng cụ, nguyên vật liệu phải đảm bảo yêu cầu bảo quản của nhà sản xuất, nhà cung cấp; cơ sở nuôi trồng thủy sản có khu sinh hoạt, khu vệ sinh phải đảm bảo nước thải, chất thải sinh hoạt không làm ảnh hưởng đến khu vực nuôi
- Trường hợp cơ sở nuôi trồng thủy sản thâm canh, bán hệ thống thâm canh phải có hệ thống xử lý nước cấp, nước thải riêng biệt; nơi chứa bùn thải phù hợp, có biển báo chỉ dẫn từng khu và đáp ứng các quy định nêu trên.
+ Cơ sở vật chất đối với cơ sở nuôi trồng thủy sản bằng lồng bè, đăng quầng (sau đây gọi là nuôi lồng bè)
- Khung, lồng, phao lưới, đăng quầng phải làm bằng vật liệu không gây ô nhiễm môi trường, không gây độc hại cho thủy sản nuôi và không để thủy sản nuôi sổng thoát ra môi trường; có thiết bị cảnh báo cho hoạt động giao thông thủy; nơi chứa rác phải riêng biệt với nơi chưá, nơi xử lý thủy sản chết, không làm ảnh hưởng đến môi trường.
- Trường hợp cơ sở nuôi trồng thủy sản có khu chứa trang thiết bị , dụng cụ, nguyên vật liệu phải đảm bảo yêu cầu bảo quản của nhà sản xuất, nhà cung cấp; cơ sở nuôi trồng thủy sản có khu sinh hoạt, khu vệ sinh phải đảm bảo nước thải, chất thải sinh hoạt không làm ảnh hưởng đến khu vực nuôi
          Trang thiết bị sử dụng trong nuôi trồng thủy sản  phải làm bằng vật liệu dễ làm vệ sinh, không gây độc đối với thủy sản nuôi, không gây ô nhiễm môi trường.
11. Từ 20/3, mức giá bán lẻ điện bình quân là 1.864,44 đồng/kWh
Ngày 20/3/2019, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định 648/QĐ-BCT về điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân và quy định giá bán điện.
`Theo đó, từ ngày 20/3/2019, mức giá bán lẻ điện bình quân là 1.864,44 đồng/kWh (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng).
- Giá bán lẻ điện cho các ngành sản xuất, cấp điện áp từ 110 kV trở lên: Giờ bình thường là 1.536 đồng/kWh; Giờ thấp điểm là 970 đồng/kWh; Giờ cao điểm là 2.759 đồng/kWh;
- Giá bán lẻ điện cho khối hành chính sự nghiệp, bệnh viện, nhà trẻ, mẫu giáo, trường phổ thông: Cấp điện áp từ 6 kV trở lên là 1.659 đồng/kWh; Cấp điện áp dưới 6 kV là 1.771 đồng/kWh;…
12. loại sản phẩm được hỗ trợ đầu tư phục vụ phát triển nông nghiệp
Ngày 28/01/2019, Bộ Công Thương  ban hành Quyết định 176/QĐ-BCT về Danh mục sản phẩm cơ khí chế tạo, linh kiện, máy nông nghiệp và sản phẩm phụ trợ phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn được hỗ trợ đầu tư.
Theo đó, ban hành Danh mục gồm 12 sản phẩm phụ trợ phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn được hỗ trợ đầu tư, cụ thể:
- Động cơ máy kéo phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản;
- Hệ thống máy, thiết bị tưới nước tự động;
- Máy, thiết bị sấy nông sản, lâm sản, thủy sản; si lô, thiết bị sử dụng chứa, bảo quản lúa, ngô, cà phê, khoai, sắn, chè, hạt tiêu, hạt điều;
- Các loại máy, thiết bị thu hoạch: Lúa, ngô, mía, cà phê; máy đốn, hái chè; máy tuốt đập lúa; máy xay xát lúa gạo; máy bóc bẹ tẽ hạt ngô; máy tẽ ngô; máy dập đậu tương…
13. 05 loại sách, tài liệu pháp luật có trong Tủ sách pháp luật điện tử quốc gia
Ngày 13/3/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 14/2019/QĐ-TTg về việc xây dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật.
Theo đó, 05 loại sách, tài liệu pháp luật có trong Tủ sách pháp luật điện tử quốc gia bao gồm:
- Tài liệu, đề cương giới thiệu các luật, pháp lệnh;
- Sách, tài liệu hỏi đáp, bình luận, giải thích, hướng dẫn pháp luật; tờ gấp, tiểu phẩm, câu chuyện pháp luật;
- Sách, tài liệu hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về các lĩnh vực quản lý của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan Nhà nước khác ở trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
- Văn bản quy phạm pháp luật được liên kết, trích xuất từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, Công báo điện tử nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Cổng thông tin điện tử pháp điển…
 
         
PHẦN II
ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN
LUẬT TỐ CÁO NĂM 2018
Luật tố cáo được Quốc hội thông qua ngày 12/6/2018. Chủ tịch nước ký Lệnh công bố ngày 25/6/2018. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2019.
1. Phạm vi điều chỉnh
Đây là nội dung quan trọng, cơ bản nhất của Luật tố cáo làm cơ sở cho việc quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết và những nội dung khác có liên quan của Luật. Để cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về quyền tố cáo của cá nhân cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc giải quyết tố cáo; đồng thời bảo đảm sự thống nhất giữa Luật tố cáo với Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật khác có liên quan, Luật tố cáo tiếp tục kế thừa quy định của Luật năm 2011 về phạm vi điều chỉnh, trong đó quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo đối với 02 nhóm hành vi vi phạm pháp luật: (i) tố cáo hành vi vi phạm trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; (ii) tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực (Điều 1). Bên cạnh đó, Luật tố cáo còn quy định về vấn đề bảo vệ người tố cáo; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc quản lý công tác giải quyết tố cáo.
2. Áp dụng pháp luật tố cáo và giải quyết tố cáo
           Nhằm đảm bảo sự thống nhất trong áp dụng pháp luật, Điều 3 quy định cụ thể như sau :
1. Tố cáo và giải quyết tố cáo được áp dụng theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Trường hợp luật khác có quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của luật đó.
2. Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự”.
Trong quá trình xây dựng dự án Luật tố cáo, có một số ý kiến đề nghị xác định Luật ố cáo là luật gốc, nên để phù hợp với quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì không nên nêu nguyên tắc áp dụng pháp luật như quy định tại khoản 1 Điều 3 của Luật tố cáo mà các luật khác phải tuân theo quy định của Luật này để áp dụng trong việc điều chỉnh về tố cáo và giải quyết tố cáo từng lĩnh vực; trường hợp Luật này phải áp dụng quy định của luật khác thì cũng cần chỉ rõ đó là các quy định nào, ở văn bản nào và ngược lại quy định nào của Luật Tố cáo cần được áp dụng chung trong quá trình giải quyết tố cáo từng lĩnh vực ở văn bản pháp khác.
Quá trình nghiên cứu cho thấy, bên cạnh Luật tố cáo - là đạo luật điều chỉnh chung về tố cáo và giải quyết tố cáo, thì hiện nay còn có một số văn bản pháp luật khác, với những hình thức rất khác nhau, có quy định riêng về tố cáo và giải quyết tố cáo như Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật thi hành án hình sự, Luật thi hành án dân sự, Luật phòng, chống tham nhũng, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Việc đưa tất cả các quy định liên quan trong các luật nói trên vào Luật tố cáo hay lấy Luật tố cáo là căn cứ để điều chỉnh các luật khác là rất phức tạp, không có tính khả thi và không bao quát hết tính đặc thù của việc giải quyết tố cáo trong từng lĩnh vực. Với việc xác định nguyên tắc áp dụng pháp luật như khoản 1 Điều 3 sẽ tránh được tình trạng xung đột pháp luật (mâu thuẫn, chồng chéo hoặc bỏ sót). Như vậy, trường hợp luật khác có quy định khác về tố cáo và giải quyết tố cáo thì mới áp dụng theo quy định của luật đó hoặc trong trường hợp luật khác quy định dẫn chiếu việc thực hiện theo Luật tố cáo thì việc giải quyết tố cáo trong lĩnh vực được áp dụng theo quy định tại Luật tố cáo.
Việc tố giác và tin báo về tội phạm được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, bởi lẽ vấn đề này có yêu cầu tiếp nhận, giải quyết đặc thù và đã được quy định rất chặt chẽ và cụ thể trong pháp luật về tố tụng hình sự.
3. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo, người giải quyết tố cáo
 Tổng kết công tác giải quyết tố cáo những năm qua cho thấy, qua đơn thư tố cáo giúp cơ quan Nhà nước phát hiện nhiều hành vi tiêu cực, tham nhũng, vi phạm pháp luật, thậm chí tội phạm, để có biện pháp xử lý kịp thời, nghiêm minh những người vi phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy có không ít trường hợp công dân đã lợi dụng quyền tố cáo để tố cáo sai, vu cáo, vu khống nhằm làm hại uy tín, danh dự của người khác, gây mất đoàn kết nội bộ của một số cán bộ mất phẩm chất, kéo bè cánh vì những lợi ích cá nhân. Vì vậy, cần phải phải có quy định để đảm bảo sự công bằng và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo cũng như người giải quyết tố cáo. Trên cơ sở kế thừa các nội dung còn phù hợp của Luật năm 2011, Luật tố cáo đã quy định cụ thể và đầy đủ hơn về quyền, nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo, người giải quyết tố cáo.
Đối với người tố cáo, Luật quy định các quyền cho người tố cáo như: thực hiện tố cáo; được bảo đảm bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác; được thông báo về việc thụ lý hoặc không thụ lý tố cáo, chuyển tố cáo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết, gia hạn giải quyết tố cáo, đình chỉ, tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo, tiếp tục giải quyết tố cáo, kết luận nội dung tố cáo; tố cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo chưa được giải quyết; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ người tố cáo; được khen thưởng, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Luật đã bổ sung quyền rút tố cáo của người tố cáo. Bên cạnh các quyền, Luật tố cáo quy định người tố cáo có các nghĩa vụ: cung cấp thông tin cá nhân quy định tại Điều 23 của Luật; trình bày trung thực về nội dung tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình; hợp tác với người giải quyết tố cáo khi có yêu cầu; bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra (Điều 9).
Về các quyền và nghĩa vụ của người bị tố cáo, Luật tố cáo đã bổ sung một số quyền của người bị tố cáo như được thông báo về việc gia hạn giải quyết tố cáo, đình chỉ, tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo, tiếp tục giải quyết tố cáo; được bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp khi chưa có kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo; có quyền khiếu nại quyết định xử lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Luật cũng bổ sung nghĩa vụ của người bị tố cáo là có mặt để làm việc theo yêu cầu của người giải quyết tố cáo (Điều 10).
Đối với người giải quyết tố cáo, Luật tố cáo bổ sung một số nghĩa vụ, đó là: bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo khi chưa có kết luận nội dung tố cáo; thông báo cho người tố cáo về việc thụ lý hoặc không thụ lý tố cáo, việc chuyển vụ việc tố cáo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết, gia hạn giải quyết tố cáo, đình chỉ, tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo, tiếp tục giải quyết tố cáo, kết luận nội dung tố cáo; thông báo cho người bị tố cáo về nội dung tố cáo, gia hạn giải quyết tố cáo, đình chỉ, tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo, tiếp tục giải quyết tố cáo; gửi kết luận nội dung tố cáo cho người bị tố cáo (Điều 11).
4. Giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
Việc giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là vấn đề trọng tâm, chủ yếu của Luật tố cáo. Trong quá trình xây dựng dự thảo Luật tố cáo, đây cũng là vấn đề nhận được rất nhiều ý kiến tham gia góp ý của các nhà khoa học cũng như những người thực tiễn trực tiếp làm công tác giải quyết tố cáo. So với Luật năm 2011, Luật tố cáo có rất nhiều điểm mới trong các quy định về thẩm quyền cũng như về trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo đối với nhóm hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
4.1. Về thẩm quyền giải quyết tố cáo
Về nguyên tắc xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo: Luật tiếp tục kế thừa nguyên tắc xác định thẩm quyền trong Luật năm 2011, ngoài ra còn bổ sung thêm một số nguyên tắc để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn hiện nay: tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức xảy ra trong thời gian công tác trước đây nay đã chuyển sang cơ quan, tổ chức khác hoặc không còn là cán bộ, công chức, viên chức; tố cáo đối với cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách; tố cáo cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, tổ chức đã bị giải thể; tố cáo cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ (Điều 12).
Về thẩm quyền giải quyết tố cáo: Trước hết, Luật tố cáo quy định về thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong cơ quan hành chính nhà nước (Điều 13). Ngoài ra, Luật còn bổ sung quy định về thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, trong Kiểm toán nhà nước và trong các cơ quan khác của Nhà nước như tại các cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp... (Từ Điều 14 đến Điều 17). Luật cũng quy định về thẩm quyền giải quyết tố cáo trong các đơn vị sự nghiệp công lập (Điều 18) và thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ của người có chức danh, chức vụ trong doanh nghiệp nhà nước (Điều 19). Ngoài ra, Luật tố cáo tiếp tục kế thừa quy định của Luật tố cáo năm 2011 khi quy định về thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ mà không phải là cán bộ, công chức, viên chức (Điều 21); Luật cũng giao Cơ quan trung ương của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hướng dẫn về thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với các hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội (Điều 20).
4.2. Về hình thức tố cáo, tiếp nhận, xử lý ban đầu thông tin tố cáo
- Hình thức tố cáo: Để xác định rõ trách nhiệm của người tố cáo, tránh tình trạng lợi dụng các hình thức tố cáo để tố cáo tràn lan, cố ý tố cáo sai sự thật, ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của người bị tố cáo, Luật tố cáo vẫn tiếp tục quy định hai hình thức tố cáo (như quy định của Luật năm 2011): tố cáo bằng đơn và tố cáo trực tiếp (Điều 22).
- Tiếp nhận, xử lý ban đầu thông tin tố cáo: Đây là bước quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền quyết định thụ lý hay không thụ lý giải quyết tố cáo. Do đó, Luật quy định cụ thể việc tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn tố cáo, đảm bảo cho việc xử lý được thực hiện một cách chặt chẽ. Theo đó, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo có trách nhiệm tổ chức việc tiếp nhận tố cáo. Luật cũng quy định trách nhiệm vào sổ, phân loại, xử lý ban đầu thông tin tố cáo, kiểm tra, xác minh thông tin về người tố cáo và điều kiện thụ lý tố cáo; xử lý hành vi bị tố cáo có dấu hiệu của tội phạm (Từ Điều 23 đến Điều 27). Trong việc xử lý đối với thông tin tố cáo, Luật tố cáo năm 2018 có quy định một số điểm mới:
Một là, đối với đơn tố cáo được gửi đến nhiều nơi, Khoản 3 Điều 24 Luật tố cáo quy định: trường hợp tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình và được gửi đồng thời cho nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân, trong đó có cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết hoặc trường hợp đã hướng dẫn nhưng người tố cáo vẫn gửi tố cáo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân không có thẩm quyền giải quyết thì cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận được tố cáo không xử lý. Quy định này nhằm tránh tình trạng người tố cáo gửi đơn tố cáo tràn lan, vượt cấp, đồng thời đảm bảo tính hiệu quả cho các cơ quan, tổ chức trong việc xử lý đối với tố cáo không thuộc thẩm quyền.
Hai là, đối với tố cáo nặc danh, mạo danh, Điều 25 Luật tố cáo quy định: khi nhận được thông tin có nội dung tố cáo nhưng không rõ họ tên, địa chỉ của người tố cáo hoặc qua kiểm tra, xác minh không xác định được người tố cáo hoặc người tố cáo sử dụng họ tên của người khác để tố cáo hoặc thông tin có nội dung tố cáo được phản ánh không theo hình thức quy định tại Điều 22 của Luật thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không xử lý.
Trường hợp thông tin có nội dung tố cáo có nội dung rõ ràng về người có hành vi vi phạm pháp luật, có tài liệu, chứng cứ cụ thể về hành vi vi phạm pháp luật và có cơ sở để thẩm tra, xác minh thì cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tiến hành việc thanh tra, kiểm tra theo thẩm quyền hoặc chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để tiến hành việc thanh tra, kiểm tra phục vụ cho công tác quản lý.
4.3. Về trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo
Nếu như Luật năm 2011 quy định trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo bắt đầu từ khâu tiếp nhận tố cáo thì Luật tố cáo quy định trình tự, thủ tục này bắt đầu từ khâu thụ lý tố cáo. Đây cũng là thời điểm bắt đầu để tính thời hạn giải quyết tố cáo. Luật tố cáo quy định 4 bước trong quy trình giải quyết tố cáo, cụ thể như sau:
- Thụ lý tố cáo.
- Xác minh nội dung tố cáo.
- Kết luận nội dung tố cáo.
- Xử lý kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo.
Luật đã bổ sung một số quy định mới nhằm quy định chi tiết, cụ thể hơn về trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo:
- Bổ sung quy định về điều kiện thụ lý tố cáo (Khoản 1 Điều 29). Đây là căn cứ quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền xem xét và quyết định thụ lý vụ việc tố cáo. Theo đó, người giải quyết tố cáo ra quyết định thụ lý tố cáo khi có đủ các điều kiện sau đây:
+ Tố cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 23 của Luật này (phải đảm bảo về hình thức tố cáo).
+ Người tố cáo có đủ năng lực hành vi dân sự; trường hợp không có đủ năng lực hành vi dân sự thì phải có người đại diện theo quy định của pháp luật;
+ Vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tố cáo;
+ Nội dung tố cáo có cơ sở để xác định người vi phạm, hành vi vi phạm pháp luật.
Thực tế phát sinh không ít các trường hợp chuyển từ khiếu nại sang tố cáo mà không có căn cứ. Để giải quyết vấn đề này, Khoản 1 Điều 29 Luật tố cáo quy định: Trường hợp tố cáo xuất phát từ vụ việc khiếu nại đã được giải quyết đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng người khiếu nại không đồng ý mà chuyển sang tố cáo người đã giải quyết khiếu nại thì chỉ thụ lý tố cáo khi người tố cáo cung cấp được thông tin, tài liệu, chứng cứ để xác định người giải quyết khiếu nại có hành vi vi phạm pháp luật.
- Sửa đổi quy định về thời hạn giải quyết tố cáo. Theo đó, thời hạn giải quyết tố cáo là không quá 30 ngày kể từ ngày thụ lý tố cáo. Ngoài ra, Luật cũng quy định về việc gia hạn giải quyết tố cáo đối với những vụ việc phức tạp và vụ việc đặc biệt phức tạp. Cụ thể là, đối với vụ việc phức tạp thì có thể gia hạn giải quyết tố cáo một lần nhưng không quá 30 ngày. Đối với vụ việc đặc biệt phức tạp thì có thể gia hạn giải quyết tố cáo hai lần, mỗi lần không quá 30 ngày. Người giải quyết tố cáo quyết định bằng văn bản việc gia hạn giải quyết tố cáo và thông báo đến người tố cáo, người bị tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan (Điều 30).
- Bổ sung quy định về rút tố cáo. Theo đó, người tố cáo có quyền rút toàn bộ nội dung tố cáo hoặc một phần nội dung tố cáo trước khi người giải quyết tố cáo ra kết luận nội dung tố cáo. Việc rút tố cáo phải được thực hiện bằng văn bản. Luật cũng quy định cụ thể việc xử lý đối với các trường hợp rút tố cáo như rút toàn bộ, rút một phần, rút tố cáo trong trường hợp nhiều người cùng tố cáo, trong trường hợp người tố cáo bị đe dọa, mua chuộc hoặc người tố cáo lợi dụng việc tố cáo để vu khống, xúc phạm, gây thiệt hại cho người bị tố cáo (Điều 33).
- Bổ sung quy định về tạm đình chỉ giải quyết tố cáo, đình chỉ việc giải quyết tố cáo. Theo đó, Luật quy định cụ thể các căn cứ để tạm đình chỉ hoặc đình chỉ (Điều 34). Về các căn cứ để tạm đình chỉ, Khoản 1 Điều 34 Luật tố cáo quy định, người giải quyết tố cáo ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo khi có một trong các căn cứ sau đây:
+ Cần đợi kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc đợi kết quả giải quyết vụ việc khác có liên quan;
+ Cần đợi kết quả giám định bổ sung, giám định lại.
 Khi căn cứ tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo không còn thì người giải quyết tố cáo ra ngay quyết định tiếp tục giải quyết tố cáo; thời gian tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo không tính vào thời hạn giải quyết tố cáo (Khoản 2 Điều 34).
Về các căn cứ để đình chỉ việc giải quyết tố cáo, theo quy định tại Khoản 3 Điều 34 Luật tố cáo, người giải quyết tố cáo ra quyết định đình chỉ việc giải quyết tố cáo khi có một trong các căn cứ sau đây:
+ Người tố cáo rút toàn bộ nội dung tố cáo, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này.
+ Người bị tố cáo là cá nhân chết và nội dung tố cáo chỉ liên quan đến trách nhiệm của người bị tố cáo.
+ Vụ việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
- Quy định cụ thể về việc tố cáo tiếp, giải quyết lại vụ việc tố cáo. Theo đó, trường hợp có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo là không đúng quy định của pháp luật thì người tố cáo có quyền tố cáo tiếp với người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của người đã giải quyết tố cáo. Luật đã quy định cụ thể việc xử lý đối với tố cáo tiếp và các căn cứ để giải quyết lại vụ việc tố cáo nhằm đảm bảo nguyên tắc mọi hành vi vi phạm đều được giải quyết kịp thời, đúng pháp luật; tránh tình trạng bao che vi phạm nhưng cũng tránh tình trạng tố cáo tràn lan, vượt cấp (Điều 37). Bên cạnh đó, Luật quy định về việc giải quyết tố cáo trong trường hợp vụ việc quá thời hạn quy định mà không được giải quyết, qua đó xác định rõ trách nhiệm của người giải quyết tố cáo cũng như của người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của người giải quyết tố cáo trong hoạt động theo dõi, đôn đốc việc giải quyết tố cáo (Điều 38). Đặc biệt, một trong những điểm mới của Luật tố cáo liên quan đến thẩm quyền giải quyết tố cáo trong trường hợp quá thời hạn quy định mà tố cáo chưa được giải quyết, đó là trường hợp có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, có dấu hiệu không khách quan thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp giải quyết vụ việc tố cáo (Khoản 5 Điều 38).
(Còn tiếp)

 
PHẦN III
TIN NỔI BẬT VỀ HOẠT ĐỘNG PHỔ BIẾN
PHÁP LUẬT TRONG QUÝ I/2019
  1. Tam Kỳ tuyên truyền pháp luật về An ninh mạng
Trong quý I/2019, Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ phối hợp với Ban Tuyên giáo Thành ủy, Thành đoàn Tam Kỳ, UBND phường Trường Xuân, xã Tam Thanh tổ chức tuyên truyền Luật An ninh mạng cho học viên lớp bồi dưỡng kết nạp Đảng, lực lượng đoàn viên, thanh niên, học sinh, hội viên hội phụ nữ…
Tại hội nghị, các đại biểu đã được Báo cáo viên  thành phố giới thiệu các nội dung cơ bản của pháp luật về An ninh mạng như: Luật An ninh mạng có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2019 và các văn bản luật liên quan đến vi phạm pháp luật trên không gian mạng. Nhiều nội dung được các đại biểu quan tâm như: Mục đích, ý nghĩa, sự cần thiết của việc ban hành Luật An ninh mạng, những hành vi nghiêm cấm theo quy định của luật; các hành vi Đăng hình ảnh lên facebook; đánh bạc online; đưa thông tin cá nhân của người khác lên mạng; nói xấu người khác… Dịp này, Phòng Tư pháp thành phố cũng đã phát gần 150 Tập san Phổ biến giáo dục pháp luật cho các học viên.
2. Tam Kỳ tư vấn thủ tục hành chính và phát tờ rơi tuyên truyền háp luật tại khối phố 6, phường Trường xuân
Sáng ngày 02/3/2019, Phòng Tư pháp thành phố phối hợp với Thành đoàn, UBND phường Trường xuân và các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức Ngày hội tư vấn pháp luật và thủ tục hành chính cho nhân dân phường Trường xuân tại nhà sinh hoạt khối phố 6 trên tất cả các lĩnh vực, trong đó tập trung vào thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ tịch, hộ khẩu, cấp giấy chứng minh nhân dân, chứng thực hợp đồng giao dịch, cấp giấy phép xây dựng, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, chế độ chính sách đối với người có công, gia đình liệt sỹ...
Tại buổi tư vấn, hơn 70 tổ chức, cá nhân đã được đại diện Công an thành phố, Bảo hiểm xã hội thành phố, Phòng Quản lý đô thị, Phòng Tư pháp, Phòng Tài nguyên và môi trường, Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố; Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, Trung tâm hành chính công thành phố, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố trực tiếp tư vấn, hướng dẫn quy trình các bước khi thực hiện thủ tục hành chính. Một số vướng mắc liên quan đến pháp luật cũng được cán bộ các cơ quan, đơn vị tư vấn, giải đáp cụ thể.
Dịp này, Phòng Tư pháp phối hợp với Đoàn khối UBND thành phố cấp phát hơn 100 tờ rơi, bản tin phổ biến giáo dục pháp luật cho người dân trên địa bàn phường đến tham gia ngày hội./.
 
PHẦN IV
CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT
***
CÓ NỢ PHẢI TRẢ
Nhân vật:
A: người cho vay
B: người vay
C: bạn A – là luật sư
Năm 2017, Anh A có vay của Anh B 150.000.000 đồng. Vì tin tưởng B nên Anh A chỉ yêu cầu anh B viết giấy vay nợ không phải trả lãi và bảo đảm bằng bất cứ tài sản nào, có anh H hàng xóm làm chứng. Trong giấy vay nợ có yêu cầu thời hạn trả nợ là tháng 12/2017. Tuy nhiên gần hết năm 2018, anh B vẫn chưa thanh toán nợ cho anh A. Anh A đã nhiều lần yêu cầu B thanh toán nợ nhưng anh B vẫn không trả, hứa hẹn lần này đến lần khác. Mấy tuần nay anh B gọi điện anh A không nghe máy, đến nhà thì không có ai ở nhà.
Cảnh 1: Cuộc hội thoại giữa A và B
Lo lắng vì sợ anh B không trả số tiền trên nên anh A đã khởi kiện yêu cầu anh B trả nợ. Biết tin bị khởi kiện, anh B đã gọi điện xin khất một thời gian nữa sẽ trả đầy đủ 150 triệu cho anh A. Nhưng anh A vẫn khăng khăng giữ ý định khởi kiện đòi nợ anh B. Không thuyết phục được anh A, B đã nói:
B: Nếu anh khởi kiện tôi thì anh cũng sẽ không đòi được tiền của tôi đâu vì Giấy vay nợ giữa anh và tôi chỉ viết tay, có người chứng kiến nhưng anh H cũng không ký xác nhận trong giấy vay nợ với vai trò là người làm chứng. Hơn nữa giấy vay nợ này cũng không được công chứng, chứng thực thì sẽ bị Tòa án tuyên bố vô hiệu thôi. Nên tốt nhất anh cứ thư thư cho tôi thêm một thời gian, tôi sẽ trả anh đầy đủ, a không nên khởi kiện chỉ mất thời gian, tiền bạc thôi.
A: Tôi không tin, tôi vẫn sẽ khởi kiện.
Nói xong rồi A tắt máy.
Cảnh 2: Cuộc nói chuyện giữa A và C
Nghe B nói thế, A cũng hoang mang. Nếu như B nói thì nguy quá, mình khó có thể lấy lại được số tiền kia, bây giờ biết xử lý như thế nào. Ngồi trầm ngâm một lúc thì A chợt nhớ ra C. A tìm ngay số điện thoại của C là luật sư. A gọi ngay cho C.
A: Alo, ông C à, tôi A đây, dạo này ông làm ăn thế nào? Vẫn khỏe chứ?
C: Ông à, tôi vẫn tốt. Ông thế nào rồi, lâu lắm chưa ngồi với nhau nhỉ. Sao hôm nay lại nhớ đến và gọi cho tôi thế này?
A: Chả là tôi đang gặp chút chuyện, đang muốn nhờ ông tư vấn đây. Ông có thời gian không tôi muốn gặp ông để hỏi cho cụ thể.
C: Ok ông, 14h chiều nay gặp nhau tại quán café ở phố Đội Cấn nhé.
A: ok ông.
Cảnh 3: Tại quán café
C vừa đến thì thấy A đã ngồi ở quán. C liền đến gần bắt tay, hỏi han:
C: Ông đến lâu chưa?
A: Tôi cũng vừa đến thôi.
C: Uh. Thế ông có việc gì cần tôi tư vấn đấy, ông nói tôi nghe xem sao nào?
A kể đầu đuôi sự việc cho C nghe. C chăm chú lắng nghe.
C: Bây giờ ông muốn hỏi tôi là Giao dịch cho vay tiền của ông có bị vô hiệu không đúng không?
A: Đúng rồi.
C: Theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì:
“1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.”
Giao dịch giữa ông và ông B là hợp đồng vay tài sản giữa hai cá nhân, không có tài sản bảo đảm, tài sản cho vay là tiền.
Đối chiếu với quy định của Bộ luật dân sự 2015 về hợp đồng vay tài sản thì không yêu cầu hợp đồng vay phải công chứng, chứng thực.
Hơn nữa, việc ông B vay tiền của ông có anh H – hàng xóm làm chứng nên giấy vay tiền viết tay là chứng cứ để chứng minh quan hệ vay nợ giữa hai bên.
Nếu khi khởi kiện ta Tòa để giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tiền, người vay chối không vay thì ông có thể yêu cầu Tòa án thực hiện thủ tục giám định chữ ký để có căn cứ rõ ràng chứng minh việc vay tiền của người vay.
C: Tuy nhiên, lần sau ông cho vay tiền ông nên cẩn thận hơn. Mặc dù pháp luật không bắt buộc phải công chứng nhưng với số tiền lớn thì ông nên nhờ luật sư soạn thảo hợp đồng và công chứng đầy đủ để khi có vấn đề bất trắc gì xảy ra mình còn yên tâm vì có chứng cứ hợp pháp.
A: uh. Sau lần này, tôi sẽ cẩn thận hơn. Có gì sau này nhờ ông giúp nhé. Hôm nay cảm ơn ông nhiều lắm.
Nghe C nói vậy, A yên tâm hơn. Và vẫn kiên định khởi kiện B.
Sau buổi gặp C hôm đó, A đã liên lạc với B, phân tích cho B hiểu rõ về hiệu lực của giấy vay nợ giữa hai người.
B tỏ ra lo lắng, vì không muốn bị đưa ra Tòa, B đã đến nhà A tìm gặp xin A cho B trả tiền trong thời hạn 1 tuần và mong A rút đơn.
Vì lúc đấy, B có đưa theo một người bạn thân với cả B và A. Nhờ người bạn này nói giúp nên A đã đồng ý rút đơn khởi kiện và buộc B phải thanh toán tiền nợ trong vòng 1 tuần.
Trong 1 tuần sau đó, B đã thanh toán đầy đủ nợ cho A. A gọi điện thông báo cho C và cảm ơn C một lần nữa.
Nguồn: Moj.gov.vn
 
 

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Tin mới

















 

Bài giảng tuyên truyền pháp luật

Thăm dò ý kiến

Đánh giá thái độ phục vụ của công chức Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ

Thoải mái, dễ chịu, vui vẻ

Hướng dẫn tận tình, chu đáo

Hướng dẫn thờ ơ, qua loa

Ý kiến khác

Phóng sự giao trả hồ sơ tận nhà trên lĩnh vực Hộ tịch