Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng nhì


UBND xã  Tam Thanh dẫn đầu phong trào thi đua  Quý 3 năm 2017























 

:::Thống kê:::

  • Đang truy cập: 68
  • Khách viếng thăm: 67
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 9770
  • Tháng hiện tại: 148034
  • Tổng lượt truy cập: 8237632

Bản tin pháp luật tuần 26: văn bản pháp luật ban hành từ ngày 30/6/2016 đến ngày 08/7/2016

Đăng lúc: Thứ ba - 12/07/2016 16:27 - Người đăng bài viết: Tư pháp Tam Kỳ
 
BẢN TIN PHÁP LUẬT TUẦN 26
Tổng hợp các văn bản được ban hành Từ ngày 30/6 đến 08/7/2016
Biên soạn: Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ
Website: http://tuphaptamky.gov.vn
***
1. Nghị định số 74/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác điều ước quốc tế và công tác thỏa thuận quốc tế
Theo Nghị định, kinh phí cho công tác điều ước quốc tế và công tác thỏa thuận quốc tế được bảo đảm từ ngân sách nhà nước phù hợp với quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Việc bố trí kinh phí cho công tác điều ước quốc tế, công tác thỏa thuận quốc tế của các cơ quan phải căn cứ trên cơ sở chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước nhằm thực hiện hợp tác quốc tế trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
Kinh phí bảo đảm cho công tác điều ước quốc tế và công tác thỏa thuận quốc tế thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm và được bố trí trong dự toán chi thường xuyên của các cơ quan thực hiện công tác điều ước quốc tế và công tác thỏa thuận quốc tế. Việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác điều ước quốc tế và công tác thỏa thuận quốc tế được thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành…
2. Nghị định số 72/2016/NĐ-CP về hoạt động nhiếp ảnh
Ngày 01/07/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 72/2016/NĐ-CP về hoạt động nhiếp ảnh; áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia hoạt động nhiếp ảnh tại Việt Nam.
Theo Nghị định, tổ chức, cá nhân khi tham gia hoạt động nhiếp ảnh không được sửa chữa, ghép tác phẩm nhiếp ảnh làm sai lệch nội dung của hình ảnh nhằm mục đích xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng; không xúc phạm vĩ nhân, anh hùng dân tộc, lãnh tụ, danh nhân văn hóa; không vu khống, xâm hại uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân. Đồng thời, không được mua, bán, sử dụng, phổ biến tác phẩm nhiếp ảnh vi phạm pháp luật hoặc đã có quyết định đình chỉ lưu hành, cấm lưu hành, thu hồi, tịch thu, tiêu hủy của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền…
Cũng theo Nghị định, tổ chức, cá nhân đưa tác phẩm nhiếp ảnh từ Việt Nam ra nước ngoài triển lãm phải có giấy phép triển lãm do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp. Tác phẩm tham gia triển lãm phải có nguồn gốc, xuất xứ và quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp. Trường hợp đưa tác phẩm nhiếp ảnh từ Việt Nam ra nước ngoài dự thi, liên hoan, tổ chức cá nhân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về bản quyền và nội dung tác phẩm nhiếp ảnh dự thi, liên hoan; nếu phát hiện có sai phạm, tổ chức, cá nhân sẽ bị xử lý theo quy định của pháp  luật…
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/08/2016.
3. Nghị định số 71/2016/NĐ-CP Quy định thời hạn, trình tự, thủ tục thi hành án hành chính và xử lý trách nhiệm đối với người không thi hành bản án, quyết định của Tòa án
Theo Nghị định số 71/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định thời hạn, trình tự, thủ tục thi hành án hành chính và xử lý trách nhiệm đối với người không thi hành bản án, quyết định của Tòa án, cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm pháp luật về thi hành án hành chính tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật theo các hình thức: Khiển trách; Cảnh cáo; Hạ bậc lương; Giáng chức; Cách chức; Buộc thôi việc.
Trong đó, hình thức cảnh cáo cách chức áp dụng đối với công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có hành vi như: Sau khi có quyết định buộc thi hành án hành chính mà vẫn không chấp hành, chấp hành không đúng hoặc không đầy đủ nội dung bản bản, quyết định của Tòa án và gây hậu quả rất nghiêm trọng; Bị phạt tù cho hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ về tội không chấp hành án hoặc tội cản trở việc thi hành án. Hình thức buộc thôi việc áp dụng với công chức, viên chức có hành vi: Không chấp hành, chấp hành không đúng hoặc không đầy đủ nội dung bản án, quyết định của Tòa án và gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng; Bị phạt tù mà không được hưởng án treo về tội không chấp hành án hoặc tội cản trở việc thi hành án…
Bên cạnh đó, Nghị định cũng có quy định cụ thể về việc công khai thông tin khi không chấp hành án hành chính. Cụ thể, trong 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định buộc thi hành án hành chính, Cục Thi hành án dân sự tổ chức công khai quyết định buộc thi hành án hành chính bằng hình thức đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Cục Thi hành án dân sự, Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thi hành án dân sự… Sẽ chấm dứt công khai thông tin sau khi án hành chính thi hành xong.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2016.
4. Nghị định số 70/2016/NĐ-CP về điều kiện cung cấp dịch vụ bảo đảm an toàn hàng hải
Ngày 01/07/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 70/2016/NĐ-CP về điều kiện cung cấp dịch vụ bảo đảm an toàn hàng hải, gồm: Thiết lập, vận hành, duy trì, bảo trì báo hiệu hàng hải, luồng hàng hải và tuyến hàng hải; Thông báo hàng hải; Khảo sát phục vụ Thông báo hàng hải; Điều tiết bảo đảm an toàn hàng hải; Điều tiết bảo đảm an toàn hàng hải; Khảo sát, xây dựng và phát hành hải đồ vùng nước cảng biển, luồng hàng hải và tuyến hàng hải; xây dựng và phát hành tài liệu, ấn phẩm an toàn hàng hải; Thông tin điện tử hàng hải; Hoa tiêu hàng hải; Thanh thải chướng ngại vật; Nhập khẩu pháo hiệu hàng hải.
Nghị định quy định, tổ chức, cá nhân có nhu cầu nhập khẩu pháo hiệu hàng hải phải đáp ứng các điều kiện như: Được thành lập theo quy định của pháp luật; Khi thành lập phải có vốn tối thiểu 02 tỷ đồng và duy trì trong suốt quá trình hoạt động; Có giấy phép nhập khẩu pháo hiệu hàng hải; Đáp ứng các điều kiện về phòng cháy, chữa cháy theo quy định. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thanh thải chướng ngại vật cũng phải đáp ứng yêu cầu có số vốn tối thiểu từ 05 tỷ đồng và duy trì trong suốt quá trình hoạt động.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2017; riêng các điều kiện kinh doanh dịch vụ nhập khẩu pháo hiệu hàng hải có hiệu lực từ ngày 01/07/2016.
5. Nghị định số 69/2016/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ
Theo Nghị định số 69/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ môi giới mua bán nợ, tư vấn bán nợ phải có mức vốn điều lệ, vốn đầu tư ít nhất 05 tỷ đồng; đối với doanh nghiệp kinh doanh hoạt động mua bán nợ, mức vốn điều lệ, vốn đầu tư tối thiểu là 100 tỷ đồng.
Ngoài ra, doanh nghiệp kinh doanh hoạt động mua bán nợ còn phải có quy chế quản lý nội bộ về tổ chức và quy định nội bộ về hoạt động kinh doanh dịch vụ mua bán nợ; có người quản lý có trình độ từ đại học trở lên thuộc chuyên ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, luật hoặc lĩnh vực chuyên môn sẽ đảm nhận; có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, không thuộc đối tượng cấm quản lý doanh nghiệp; có ít nhất 05 năm làm việc trực tiếp trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm toán, pháp luật, định giá tài sản hoặc mua bán nợ.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2016.
6. Nghị định 68/2016/NĐ-CP quy định về điều kiện kinh doanh hàng miễn thuế, kho bãi, địa điểm làm thủ tục hải quan, tập kết, kiểm tra, giám sát hải quan
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 68/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 quy định về điều kiện kinh doanh hàng miễn thuế, kho bãi, địa điểm làm thủ tục hải quan, tập kết, kiểm tra, giám sát hải quan. Nghị định này quy định cụ thể về điều kiện cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hàng miễn thuế; các trường hợp tạm dừng hoạt động, thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hàng miễn thuế.
Để được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hàng miễn thuế, Nghị định yêu cầu phải đáp ứng các điều kiện về vị trí đặt cửa hàng miễn thuế: a) Trong khu vực cách ly của cửa khẩu đường bộ quốc tế, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng biển loại 1; trong khu vực cách ly và khu vực hạn chế của cảng hàng không dân dụng quốc tế; b) Trong nội địa; c) Trên tàu bay thực hiện các chuyến bay quốc tế của hãng hàng không được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam; d) Kho chứa hàng miễn thuế đặt tại vị trí cùng với cửa hàng miễn thuế hoặc trong khu vực cách ly, khu vực hạn chế hoặc thuộc địa bàn hoạt động hải quan tại các khu vực ngoài cửa khẩu. Bên cạnh đó, phải có phần mềm đáp ứng các tiêu chí: Quản lý hàng hóa nhập, xuất, lưu giữ, tồn trong cửa hàng miễn thuế theo từng mặt hàng, đối tượng mua hàng, tờ khai hải quan; đáp ứng yêu cầu sao lưu, kết xuất dữ liệu để phục vụ công tác báo cáo, thống kê, lưu trữ và được nối mạng trực tiếp với cơ quan hải quan quản lý.
Đồng thời, phải có hệ thống ca-mê-ra quan sát được các vị trí trong kho chứa hàng miễn thuế, cửa hàng miễn thuế; hình ảnh quan sát được vào tất cả các thời điểm trong ngày (24/24 giờ). Dữ liệu về hình ảnh ca-mê-ra được lưu giữ tối thiểu 12 tháng và hệ thống ca-mê-ra được kết nối trực tiếp với cơ quan hải quan quản lý.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2016.
7. Nghị định 67/2016/NĐ-CP quy định về điều kiện sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ Y tế
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Nghị định 67/2016/NĐ-CP quy định về điều kiện sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ Y tế.
Trong đó, về điều kiện đối với cơ sở, Nghị định yêu cầu cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải có đủ diện tích để bố trí khu vực sản xuất thực phẩm, các khu vực phụ trợ và thuận tiện cho hoạt động sản xuất, bảo quản và vận chuyển thực phẩm; khu vực sản xuất, bảo quản thực phẩm không bị ngập nước, đọng nước; không bị ảnh hưởng bởi động vật, côn trùng, vi sinh vật gây hại; không bị ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm từ các khu vực ô nhiễm bụi, hoá chất độc hại và các nguồn gây ô nhiễm khác.
Về điều kiện đối với thiết bị, dụng cụ, Nghị định yêu cầu thiết bị, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm phải được thiết kế chế tạo phù hợp với yêu cầu công nghệ sản xuất; bảo đảm an toàn, không gây ô nhiễm thực phẩm, dễ làm sạch, khử trùng, bảo dưỡng. Thiết bị, dụng cụ sản xuất di động phải bền, dễ di chuyển, tháo lắp và làm vệ sinh.
Ngoài ra, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải có thiết bị, dụng cụ giám sát chất lượng, an toàn sản phẩm và đánh giá được chỉ tiêu cơ bản về chất lượng, an toàn thực phẩm. Nếu không có thiết bị, dụng cụ giám sát chất lượng, an toàn thực phẩm thì phải có hợp đồng kinh tế với tổ chức, cá nhân được phép kiểm nghiệm khác.
8. Nghị định số 66/2016/NĐ-CP quy định điều kiện đầu tư kinh doanh về bảo vệ và kiểm dịch thực vật; giống cây trồng; nuôi động vật rừng thông thường; chăn nuôi; thủy sản; thực phẩm
Chủ cơ sở, người trực tiếp buôn bán thực phẩm phải có Giấy xác nhận kiến thức an toàn thực phẩm (ATTP) và đáp ứng yêu cầu về sức khỏe theo quy định là nội dung đáng chú ý về điều kiện đầu tư kinh doanh cơ sở buôn bán thực phẩm tại Nghị định số 66/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định điều kiện đầu tư kinh doanh về bảo vệ và kiểm dịch thực vật; giống cây trồng; nuôi động vật rừng thông thường; chăn nuôi; thủy sản; thực phẩm.
Ngoài việc đáp ứng yêu cầu về nhân lực như trên, cơ sở buôn bán thực phẩm còn phải đáp ứng một số điều kiện khác như: Nơi buôn bán tách biệt với khu vực ô nhiễm môi trường đã được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công bố, các khu tập trung, xử lý chất thải sinh hoạt, công nghiệp, bệnh viện; Tách biệt khu vực vệ sinh với khu vực bảo quản, khu vực kinh doanh thực phẩm; Cửa nhà vệ sinh không mở thông vào khu vực bảo quản thực phẩm; Có thiết bị, dụng cụ vận chuyển, bảo quản sản phẩm đáp ứng các điều kiện nhiệt độ, độ ẩm theo chỉ dẫn của nhà sản xuất…
Một nội dung đáng chú ý khác là quy định về điều kiện buôn bán thuốc bảo vệ thực vật. Theo đó, chủ cơ sở, người trực tiếp bán thuốc bảo vệ thực vật phải có trình độ trung cấp trở lên về một trong các chuyên ngành về bảo vệ thực vật, trồng trọt, hóa học, lâm sinh hoặc có Giấy chứng nhận bồi dưỡng nghiệp vụ về thuốc bảo vệ thực vật; địa điểm cửa hàng buôn bán thuốc bảo vệ thực vật phải tách biệt với khu vực dịch vụ ăn uống, trường học, bệnh viện; khi xây dựng phải cách nguồn nước tối thiểu 20m. Đối với kho thuốc bảo vệ thực vật của cơ sở bán lẻ, phải cách sông, hồ, kênh, rạch, giếng nước ít nhất 20m; có kệ kê hàng cao tối thiểu 10cm so với mặt sàn, cách tường tối thiểu 20cm.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2016.
9. Nghị định số 65/2016/NĐ-CP quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đào tạo lái xe ô tô và dịch vụ sát hạch lái xe
Có hiệu lực từ ngày 01/07/2016, Nghị định số 65/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đào tạo lái xe ô tô và dịch vụ sát hạch lái xe, yêu cầu  cơ sở đào tạo lái xe ô tô phải đáp ứng một số điều kiện về giáo viên, cơ sở vật chất kỹ thuật như hệ thống phòng học chuyên môn, xe tập lái và sân tập lái xe.
Cụ thể: Cơ sở đào tạo lái xe ô tô với lưu lượng 500 học viên trở lên phải có ít nhất 02 phòng pháp luật giao thông đường bộ và 02 phòng học kỹ thuật lái xe; Ít nhất 03 phòng học pháp luật giao thông đường bộ và 03 phòng học kỹ thuật lái xe và ít nhất 02 sân tập lái xe nếu có lưu lượng 1.000 học viên trở lên; Sân tập lái xe phải thuộc quyền sử dụng của cơ sở hoặc thuê với thời hạn từ 05 năm trở lên và phải trong cùng mạng lưới quy hoạch cơ sở đào tạo lái xe… Trong đó, cơ sở đào tạo lái xe ô tô có dịch vụ sát hạch lái xe được sử dụng ô tô sát hạch để dạy lái với thời gian không quá 50% thời gian sử dụng xe vào mục đích sát hạch; ô tô tải sử dụng để dạy lái xe các hạng B1, B2 phải có trọng tải từ 1.000kg trở lên với số lượng không quá 30% tổng số xe tập lái cùng hạng của cơ sở đào tạo.
Giáo viên dạy lái xe ô tô phải có bằng trung cấp trở lên thuộc chuyên ngành luật, công nghệ ô tô, công nghệ kỹ thuật ô tô, lắp ráp ô tô hoặc các ngành nghề khác có nội dung đào tạo chuyên ngành ô tô chiếm 30% trở lên; có trình độ A về tin học trở lên… (đối với giáo viên dạy lý thuyết). Giáo viên dạy thực hành phải có bằng tốt nghiệp trung cấp trở lên hoặc có chứng chỉ kỹ năng nghề để dạy trình độ sơ cấp; có Giấy phép lái xe hạng tương ứng hoặc cao hơn hạng xe đào tạo nhưng không thấp hơn hạng B2; đã qua tập huấn nghiệp vụ và được cấp Giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe… Trường hợp giáo viên dạy thực hành lái xe đã được cấp Giấy chứng nhận trước ngày 01/07/2016 mà chưa đáp ứng các điều kiện nêu trên, phải hoàn thiện đáp ứng các quy định này trước ngày 01/07/2019.
10. Nghị định số 64/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24/02/2010 quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.
Ngày 01/07/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24/02/2010 quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.
Theo quy định tại Nghị định này, nhà thầu tư vấn thực hiện thẩm tra an toàn giao thông phải có ít nhất 10 thẩm tra viên (với các dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B), trong đó tối thiểu có 04 kỹ sư công trình đường bộ, 01 kỹ sư vận tải đường bộ và ít nhất 01 người đủ điều kiện làm chủ nhiệm thẩm tra an toàn giao thông. Đối với các dự án nhóm C và công trình đường bộ đang khai thác, phải có ít nhất 05 thẩm tra viên, trong đó có tối thiểu 01 kỹ sư công trình đường bộ, 01 kỹ sư vận tải đường bộ và 01 người đủ điều kiện làm chủ nhiệm thẩm tra an toàn giao thông.
Cũng theo Nghị định này, cá nhân tham gia thẩm tra an toàn giao thông (thẩm tra viên) phải có chứng chỉ thẩm tra viên an toàn giao thông đường bộ còn giá trị sử dụng do Tổng cục Đường bộ Việt Nam cấp; chứng chỉ có thời hạn 05 năm kể từ ngày cấp. Việc cấp đổi chứng chỉ được thực hiện trong khoảng thời gian từ 01 - 03 tháng trước khi chứng chỉ hết hạn sử dụng. Trường hợp cho thuê, mượn để sử dụng trái quy định; tẩy, xóa, sửa chữa nội dung chứng chỉ hoặc phát hiện có sự không trung thực về điều kiện của học viên trong hồ sơ đăng ký của học viên…, chứng chỉ sẽ bị thu hồi.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2016.
11. Nghị định số 63/2016/NĐ-CP quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới
Ngày 01/07/2016, Chính phủ đã ra Nghị định số 63/2016/NĐ-CP quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới (ô tô, rơ mooc hoặc sơ mi rơ mooc được kéo bởi ô tô và các loại xe tương tự).
Nghị định này nhấn mạnh tới nguyên tắc chỉ những tổ chức được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định xe cơ giới mới được phép kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới. Đồng thời, tổ chức kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới không được kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, bảo dưỡng, sửa chữa xe cơ giới hoặc có liên quan trực tiếp với tổ chức kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, bảo dưỡng, sữa chữa xe cơ giới. Nếu tổ chức kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới là công ty cổ phần thì tổ chức, cá nhân kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, bảo dưỡng, sửa chữa xe cơ giới chỉ được nắm giữ không quá 10% cổ phần của tổ chức kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2016.
12. Nghị định số 62/2016/NĐ-CP quy định về điều kiện hoạt động giám định tư pháp xây dựng và thí nghiệm chuyên ngành xây dựng
Ngày 01/07/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 62/2016/NĐ-CP quy định về điều kiện hoạt động giám định tư pháp xây dựng và thí nghiệm chuyên ngành xây dựng, áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia hoạt động xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam.
Theo quy định tại Nghị định này, ngoài việc phải đáp ứng các điều kiện theo quy định hiện hành, giám định viên tư pháp còn phải có kinh nghiệm thực hiện một trong các công việc quản lý dự án đầu tư xây dựng, giám sát thi công xây dựng, kiểm định xây dựng hoặc quản lý Nhà nước về xây dựng (đối với giám định tư pháp về sự tuân thủ các quy định của pháp luật trong hoạt động đầu tư xây dựng); có chứng chỉ hành nghề chủ trì khảo sát xây dựng hoặc chủ trì thiết kế xây dựng trong trường hợp giám định chất lượng khảo sát xây dựng hoặc thiết kế xây dựng công trình; có chứng chỉ hành nghề kiểm định xây dựng hoặc thiết kế xây dựng hoặc giám sát thi công xây dựng đối với giám định chất lượng vật liệu, sảm phẩm xây dựng, thiết bị công trình…
Với tổ chức hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng, phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng; đáp ứng các yêu cầu chung của tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO/IEC 17025:2007 hoặc tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025:2007; có người quản lý trực tiếp hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng, có bằng đại học trở lên thuộc một trong các lĩnh vực thí nghiệm của tổ chức; có thí nghiệm viên tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên và có văn bằng, chứng chỉ đào tạo phù hợp cho mỗi lĩnh vực thí nghiệm…
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2016.
13. Nghị định số 60/2016/NĐ-CP quy định một số điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường
Điều kiện cấp phép xử lý chất thải nguy hại là một trong những nội dung quan trọng được quy định tại Nghị định số 60/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định một số điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường.
Theo đó, tổ chức, cá nhân đăng ký cấp giấy phép xử lý chất thải nguy hại phải đáp ứng các điều kiện như: Phương tiện, thiết bị lưu giữ chất thải phải có vỏ có khả năng chống lại sự ăn mòn, không bị gỉ, không phản ứng hóa học với chất thải nguy hại bên trọng, kết cấu cứng chịu được va chạm; phương tiện vận chuyển chất thải nguy hại phải có hệ thống định vị vệ tinh được kết nối mạng thông tin trực tuyến để xác định vị trí và ghi lại hành trình vận chuyển chất thải nguy hại; một phương tiện, thiết bị chỉ được đăng ký cho một giấy phép xử lý chất thải nguy hại, trừ các phương tiện vận chuyển đường biển, đường sắt, đường hàng không; tổ chức, cá nhân đăng ký cấp phép xử lý chất thải nguy hại phải xây dựng đầy đủ các nội dung về quy trình vận hành an toàn các hệ thống, phương tiện, thiết bị; có kế hoạch về kiểm soát ô nhiễm môi trường…
Về điều kiện kinh doanh vận chuyển các chất độc hại, chất lây nhiễm, Nghị định yêu cầu tổ chức, cá nhân phải có giấy phép vận chuyển trong trường hợp vận chuyển bằng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ với khối lượng bằng hoặc vượt ngưỡng khối lượng được quy định phải có giấy phép; khi vận chuyển từng loại hàng nguy hiểm có khối lượng không vượt ngưỡng khối lượng phải cấp phép vận chuyển, nhưng tổng khối lượng của các chất độc hại, chất lây nhiễm vận chuyển trên cùng một  phương tiện giao thông cơ giới đường bộ lớn hơn 01 tấn/chuyến…
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2016.
14. Nghị định 59/2016/NĐ-CP quy định về Chứng minh quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng
Việc sử dụng Chứng minh quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng nhằm chứng minh người được cấp là quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng trong lực lượng thường trực của Quân đội nhân dân; phục vụ công tác quản lý quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng và thực hiện các giao dịch dân sự.
Thời hạn sử dụng Chứng minh quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng là 12 năm. Trường hợp thời gian phục vụ của quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng còn dưới 12 năm thì lấy thời hạn phục vụ còn lại để cấp.
Nghị định quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm gồm: Làm giả, làm sai lệch dữ liệu, nội dung, hủy hoại, chiếm đoạt, sử dụng trái phép Chứng minh quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng; cấp lần đầu, cấp đổi, cấp lại, thu hồi, tạm giữ Chứng minh quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng trái với quy định của Nghị định này.
Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng bị thu hồi Chứng minh trong trường hợp: Thôi phục vụ trong lực lượng thường trực của Quân đội nhân dân; được cấp đổi; sau khi cá nhân nhận được Chứng minh mới thì Chứng minh cũ bị thu hồi; tước danh hiệu quân nhân hoặc buộc thôi việc.
Nghị định này có hiệu lực từ 1/7/2016. Chứng minh quân đội đã được cấp trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành vẫn còn giá trị sử dụng đến hết ngày 31/12/2019.
15. Nghị định số 58/2016/NĐ-CP quy định chi tiết về kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự và xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự
Ngày 01/07/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 58/2016/NĐ-CP quy định chi tiết về kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự và xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự; trong đó nêu rõ về việc xử lý vi phạm các quy định về kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự và sử dụng sản phẩm mật mã dân sự.
Cụ thể, phạt từ 10 - 20 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Mua, bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự, Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự; Tẩy xóa, sửa chữa nội dung trong Giấy phép; Không làm thủ tục sửa đổi, bổ sung khi thay đổi tên, thay đổi người đại diện theo pháp hoặc thay đổi, bổ sung sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự; Không làm thủ tục cấp lại khi Giấy phép bị mất hoặc hư hỏng…
Phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng với hành vi kinh doanh không đúng nội dung ghi trong Giấy phép và mức phạt cao nhất, từ 40 - 50 triệu đồng được áp dụng đối với hành vi kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự mà không có Giấy phép; Không tạm ngừng hoặc ngừng cung cấp cấp sản phẩm, dịch vụ để đảm bảo an quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội khi có yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; Từ chối cung cấp các thông tin cần thiết liên quan tới khóa mã cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi được yêu cầu…
Ngoài phạt tiền, các hình thức phạt bổ sung đối với các hành vi vi phạm quy định về kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự gồm: Tước quyền sử dụng Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự và Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã từ 01 tháng đến 3 tháng; Tịch thu tang vật, phương tiện để thực hiện hành vi vi phạm.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2016.
16. Nghị định số 56/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/09/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Theo đó, đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, trong 06 tháng đã 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng mà lại tiếp tục thực hiện một trong các hành vi nêu trên đến lần thứ ba nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, đã bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm này thì thời hiệu áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là 06 tháng, kể từ ngày thực hiện lần cuối một trong những hành vi vi phạm hành chính nêu trên.
Với người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định, thời hiệu áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là 03 tháng, kể từ ngày hành vi sử dụng ma túy bị phát hiện. Đặc biệt, người nghiện ma túy đang tham gia chương trình cai nghiện tự nguyện tại gia đình hoặc cộng đồng hoặc tham gia chương trình điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế mà bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy thì cũng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Việc áp dụng biện pháp giáo dục đối với các đối tượng này được tiến hành đồng thời với việc cai nghiện tự nguyện tại gia đình hoặc cộng đồng hoặc điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/08/2016.
17. Nghị quyết số 01/2016/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13
Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2016/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13.
Bỏ hình phạt tử hình ở một số tội: Theo đó, kể từ ngày 09/12/2015 (ngày công bố Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13), khi xét xử sơ thẩm hoặc xét xử phúc thẩm không áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội cướp tài sản; tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm; tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tội chiếm đoạt chất ma túy; tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; tội chống mệnh lệnh và tội đầu hàng địch quy định tại Điều 133; 157; 194; 231; 316; 322 Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số37/2009/QH12).
Khi xét xử sơ thẩm hoặc xét xử phúc thẩm, nếu xét thấy hành vi phạm tội là đặc biệt nghiêm trọng và theo quy định của Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 37/2009/QH12) phải xử phạt người phạm tội với mức hình phạt cao nhất là tử hình thì không xử phạt tử hình mà xử phạt người phạm tội hình phạt tù chung thân.
Trường hợp hình phạt tử hình đã tuyên trước ngày 09/12/2015 đối với người phạm tội mà Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã bỏ hình phạt tử hình và bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa thi hành án tử hình thì Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm báo cáo ngay Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân.
Chuyển tử hình thành tù chung thân khi chưa thi hành án: Kể từ ngày 09/12/2015, người đã bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ và bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa thi hành án tử hình mà thuộc một trong các trường hợp sau đây thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân: a) Sau khi bị kết án, người bị kết án tử hình đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm; b) Sau khi bị kết án, người bị kết án tử hình đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và lập công lớn.
Đối với người bị kết án tử hình thuộc trường hợp hướng dẫn trên, Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm chủ trì, phối hợp với Cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp rà soát, báo cáo ngay Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân.
Xử lý hình sự đối với người từ 14 tuổi đến 16 tuổi: Kể từ ngày 09/12/2015 đến ngày Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 có hiệu lực thi hành, chỉ áp dụng quy định của Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 37/2009/QH12) để xử lý hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm thỏa mãn quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 là "người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng" và khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 là "người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các Điều 143, 150, 151, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 285, 286, 287, 289, 290, 299, 303, 304".
Kể từ ngày Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 có hiệu lực thi hành, chỉ xử lý hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 12 và điểm b, điểm c khoản 2 Điều 14 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 quy định "người chuẩn bị phạm một trong các tội sau đây thì phải chịu trách nhiệm hình sự: Tội giết người; tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; tội cướp tài sản; tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản".
Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/8/2016.
18. Hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13, Nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Tố tụng Dân sự và Luật Tố tụng Hành chính
Ngày 30/6/2016, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) và Nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành Luật Tố tụng hành chính (LTTHC) (Nghị quyết 02).
 Theo Nghị quyết 02, Áp dụng pháp luật tố tụng dân sự và tố tụng hành chính để giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, vụ án hành chính (Điều 1): Kể từ ngày BLTTDS số 92/2015/QH13 có hiệu lực thi hành (ngày 01/7/2016), tòa án áp dụng quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 1 Nghị quyết số103/2015/QH13 để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩmnhững vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, trừ cáctrường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 517 BLTTDS số 92/2015/QH13 thì được áp dụng từ ngày 01/01/2017.
Kể từ ngày LTTHC số 93/2015/QH13 có hiệu lực thi hành (ngày 01/7/2016), Tòa án áp dụng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 1 Nghị quyết số 104/2015/QH13 để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án hành chính, trừ các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 371 LTTHC số 93/2015/QH13 thì được áp dụng từ ngày 01/01/2017.
19. Thông tư số 18/2016/TT-BXD quy định chi tiết và hướng dẫn một số nội dung về thẩm định, phê duyệt dự án và thiết kế, dự toán xây dựng công trình
Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 18/2016/TT-BXD quy định chi tiết và hướng dẫn một số nội dung về thẩm định, phê duyệt dự án và thiết kế, dự toán xây dựng công trình; Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2016 và các Thông tư số 03/2009/TT-BXD, số 10/2013/TT-BXD, số 13/2013/TT-BXD, số 09/2014/TT-BXD của Bộ Xây dựng hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành.
 Theo đó, Thông tư này quy định chi tiết về thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng và thiết kế, dự toán xây dựng công trình theo quy định tại Nghị định số 59/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng; áp dụng với cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc các Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện; người quyết định đầu tư, chủ đầu tư và tổ chức, cá nhân có liên quan.
Trách nhiệm của người quyết định đầu tư: Yêu cầu chủ đầu tư thực hiện đúng quy trình thẩm định phù hợp với quy mô, nguồn vốn sử dụng của dự án, loại và cấp công trình xây dựng. Đối với dự án sử dụng vốn hỗn hợp, người quyết định đầu tư xác định loại nguồn vốn sử dụng để làm cơ sở thực hiện trình, thẩm định, phê duyệt dự án và thiết kế, dự toán xây dựng công trình; Phân công, kiểm tra việc thực hiện công tác thẩm định của cơ quan chuyên môn trực thuộc; Phê duyệt hoặc ủy quyền phê duyệt dự án và thiết kế, dự toán xây dựng công trình theo quy định của pháp luật.
 Trách nhiệm của chủ đầu tư: Trình thẩm định dự án, thiết kế cơ sở và thiết kế, dự toán xây dựng công trình theo quy định của Thông tư này; tổ chức thẩm định làm cơ sở xem xét, phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công, dự toán xây dựng công trình đối với trường hợp thiết kế ba bước; Kiểm tra, soát xét và chịu trách nhiệm trước cơ quan thẩm định và pháp luật về tính pháp lý, nội dung của hồ sơ trình thẩm định; giải trình, hoàn thiện hồ sơ trình thẩm định theo yêu cầu của cơ quan thẩm định; Lựa chọn trực tiếp tư vấn có đủ điều kiện năng lực để thực hiện công tác thẩm tra phục vụ thẩm định và chịu trách nhiệm kiểm tra nội dung công tác thẩm tra của tư vấn đáp ứng yêu cầu thẩm tra; Lưu trữ hồ sơ theo quy định tại Khoản 3 Điều 6 của Nghị định số 59/2015/NĐ-CP.
 Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức thẩm định: Tổ chức thẩm định dự án và thiết kế, dự toán xây dựng công trình theo quy định của pháp luật; Tuân thủ quy định về quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức thẩm định theo quy định tại Điều 71 và Điều 87 của Luật Xây dựng; Báo cáo, giải trình về công tác thẩm định theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi cần thiết; Lưu trữ hồ sơ, tài liệu cần thiết có liên quan đến công tác thẩm định theo quy định tại Khoản 4 Điều 9 của Thông tư này.
 Trách nhiệm của tổ chức tư vấn xây dựng: Tuân thủ các quyền và nghĩa vụ của tư vấn xây dựng được quy định tại Điều 70 và Điều 86 của Luật Xây dựng khi lập, thẩm tra dự án, thiết kế cơ sở và thiết kế, dự toán xây dựng công trình; Cung cấp đầy đủ hồ sơ và giải trình, chỉnh sửa nội dung hồ sơ trình thẩm định theo yêu cầu của chủ đầu tư và cơ quan thẩm định.
 Trách nhiệm của UBND cấp tỉnh, cấp huyện: Quyết định việc phân công, phân cấp, ủy quyền thực hiện công tác thẩm định, phê duyệt dự án và thiết kế, dự toán xây dựng công trình trên địa bàn phù hợp với quy định của pháp luật về xây dựng và điều kiện cụ thể của địa phương. Chỉ đạo và kiểm tra công tác thẩm định của các Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành, phòng có chức năng quản lý xây dựng thuộc UBND cấp huyện, quyết định thu hồi, hủy kết quả thẩm định hoặc yêu cầu tổ chức thẩm định lại khi phát hiện có sai sót trong công tác thẩm định ảnh hưởng đến tính pháp lý, chất lượng, an toàn, chi phí và tiến độ xây dựng công trình. Xử lý, giải quyết kịp thời các vướng mắc về quy trình, thủ tục và phối hợp thực hiện công tác thẩm định trên địa bàn quản lý. Tổng hợp, báo cáo định kỳ theo Quý về công tác thẩm định dự án, thiết kế, dự toán xây dựng công trình thuộc chuyên ngành và gửi về Bộ Xây dựng để tổng hợp, theo dõi trong 15 ngày đầu tiên của Quý tiếp theo. Mẫu báo cáo về công tác thẩm định được quy định tại Phụ lục II của Thông tư này.
 Việc thẩm định báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, đề xuất chủ trương đầu tư và quyết định chủ trương đầu tư được thực hiện theo pháp luật về đầu tư và pháp luật về đầu tư công.
20. Thông tư số 17/2016/TT-BXD hướng dẫn về năng lực của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng
Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 17/2016/TT-BXD hướng dẫn về năng lực của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng; Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2016, riêng quy định tại Khoản 1 Điều 31 Thông tư này có hiệu lực từ ngày 30/6/2016.
Theo đó, Thông tư này hướng dẫn về năng lực hoạt động xây dựng, gồm: năng lực hành nghề hoạt động xây dựng của cá nhân; năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức; công bố thông tin về năng lực hoạt động xây dựng; áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam.
 Sở Xây dựng các địa phương có trách nhiệm: Thực hiện các quy định về quản lý điều kiện năng lực hoạt động xây dựng theo quy định của Thông tư này; Cấp, điều chỉnh, bổ sung, cấp lại, thu hồi chứng chỉ hành nghề, chứng chỉ năng lực hạng II, hạng III và đăng tải thông tin năng lực hoạt động xây dựng theo quy định của Thông tư này; Kiểm tra, thanh tra về năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức và cá nhân thuộc địa giới hành chính; xử lý các vi phạm về điều kiện năng lực hoạt động xây dựng theo thẩm quyền; Định kỳ trước ngày 15 tháng 12 hàng năm hoặc đột xuất báo cáo Bộ Xây dựng về tình hình cấp chứng chỉ hành nghề, chứng chỉ năng lực, đăng tải thông tin năng lực hoạt động xây dựng và tình hình quản lý năng lực hoạt động xây dựng tại địa phương.
21. Thông tư số 15/2016/TT-BXD hướng dẫn về cấp Giấy phép xây dựng
Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 15/2016/TT-BXD hướng dẫn về cấp Giấy phép xây dựng ngày 30/06/2016; trong đó quy định cụ thể về trách nhiệm của các đối tượng liên quan.
Theo đó, nhà thầu thi công xây dựng có trách nhiệm thi công đảm bảo chất lượng theo thiết kế đã được phê duyệt và giấy phép xây dựng; Từ chối thực hiện khi công trình không có giấy phép xây dựng đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng hoặc khi chủ đầu tư yêu cầu xây dựng sai với thiết kế và nội dung giấy phép xây dựng được cấp; thông báo cho cơ quan có trách nhiệm khi chủ đầu tư yêu cầu xây dựng không đúng với thiết kế, nội dung giấy phép xây dựng được cấp; bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
Trog khi đó, người đề nghị cấp giấy phép xây dựng có trách nhiệm nộp đầy đủ hồ sơ và lệ phí giấy phép xây dựng; chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của nội dung hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng và đặc biệt, phải thông báo ngày khởi công xây dựng bằng văn bản cho UBND cấp xã xây dựng công trình trong thời hạn 07 ngày làm việc trước khi khởi công xây dựng công trình.
Cơ quan cấp giấy phép xây dựng không được chỉ định tổ chức, cá nhân thiết kế hoặc thành lập các đơn vị thiết kế trực thuộc để thực hiện thiết kế cho tổ chức, cá nhân đề nghị cấp giấy phép xây dựng; cấp giấy phép xây dựng cho công trình thuộc đối tượng miễn giấy phép xây dựng khi chủ đầu tư có yêu cầu.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/08/2016.
22. Thông tư số 17/2016/TT-BYT quy định về việc thu hồi và xử lý thực phẩm không đảm bảo an toàn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế
Ngày 30/6/2016, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 17/2016/TT-BYT quy định về việc thu hồi và xử lý thực phẩm không đảm bảo an toàn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2016.
Thông tư quy định cụ thể trình tự, trách nhiệm thu hồi và xử lý sau thu hồi đối với thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm không bảo đảm an toàn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế.
 Việc thu hồi, xử lý thực phẩm trong trường hợp có nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng hoặc các trường hợp khẩn cấp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền trực tiếp tổ chức thực hiện thì thực hiện theo Luật An toàn thực phẩm.
 Có hai hình thức thu hồi thực phẩm không đảm bảo an toàn là thu hồi tự nguyện và thu hồi bắt buộc.
 Với hình thức thu hồi tự nguyện, trong thời gian tối đa 24 giờ, kể từ thời điểm xác định sản phẩm phải thu hồi, chủ sản phẩm có trách nhiệm thông báo tới người có trách nhiệm trong toàn hệ thống sản xuất, kinh doanh (cơ sở sản xuất, các kênh phân phối, đại lý, cửa hàng) để dừng việc sản xuất, kinh doanh và thu hồi sản phẩm. Sau khi kết thúc việc thu hồi, chủ sản phẩm gửi báo cáo thu hồi đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền về an toàn thực phẩm. 
 Thu hồi bắt buộc, ngay khi nhận được quyết định thu hồi từ phía cơ quan quản lý  nhà nước về an toàn thực phẩm, chủ sản phẩm phải thông báo tới những người có trách nhiệm trong hệ thống sản xuất, kinh doanh (cơ sở sản xuất, các kênh phân phối, đại lý, cửa hàng) để dừng việc sản xuất, kinh doanh và niêm phong sản phẩm. Trong thời gian tối đa 3 ngày làm việc, kể từ thời điểm nhận được quyết định thu hồi, chủ sản phẩm phải nộp kế hoạch thu hồi sản phẩm không bảo đảm an toàn đến cơ quan ra quyết định thu hồi và cơ quan nhà nước có thẩm quyền về an toàn thực phẩm. Nội dung kế hoạch thu hồi sản phẩm phải phù hợp với quyết định thu hồi sản phẩm không bảo đảm an toàn do cơ quan ra quyết định thu hồi ban hành. Việc thu hồi được thực hiện dưới sự chủ trì, giám sát của cơ quan ra quyết định thu hồi và các cơ quan có thẩm quyền về an toàn thực phẩm và các cơ quan liên quan giám sát việc thu hồi.
 Sản phẩm không bảo đảm an toàn bị thu hồi được xử lý theo một trong các phương thức như cho khắc phục lỗi của sản phẩm, lỗi ghi nhãn; chuyển mục đích sử dụng; tái xuất; tiêu hủy.
23. Thông tư số 19/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng
Trẻ đủ 6 tuổi được dùng thẻ ngân hàng: Đây là nội dung mới tại Thông tư số 19/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành ngày 30/06/2016 và có hiệu lực từ ngày 15/08/2016.
Theo đó, Thông tư quy định chủ thẻ phụ được sử dụng thẻ theo chỉ định cụ thể của chủ thẻ chính bao gồm: Người từ đủ 06 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự được người đại diện theo pháp luật của người đó đồng ý bằng văn bản về việc sử dụng thẻ được sử dụng thẻ ghi nợ không được thấu chi, thẻ trả trước; Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự được người đại diện theo pháp luật đồng ý bằng văn bản về việc sử dụng thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước; Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ được sử dụng thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước.
Như vậy, đối tượng được sử dụng thẻ ngân hàng trong vai trò là chủ thẻ phụ đã được mở rộng tới người từ đủ 06 tuổi, trong khi trước đây, Ngân hàng Nhà nước quy định chỉ người từ đủ 15 tuổi trở lên mới được sử dụng thẻ ngân hàng.
Chủ thẻ chính được Thông tư này quy định gồm: Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ được sử dụng thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước; Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, có tài sản riêng đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong việc sử dụng thẻ ghi nợ không được thấu chi, thẻ trả trước; Tổ chức thành lập, hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật được sử dụng các loại thẻ.
24. Thông tư số 22/2016/TT-BLĐTBXH hướng dẫn điều chỉnh trợ cấp ưu đãi đối với nhóm đối tượng người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học được công nhận và đang hưởng trợ cấp trước ngày 1/9/2012
Theo đó, thời điểm điều chỉnh từ ngày 1/1/2013 điều chỉnh mức hưởng từ mức trợ cấp của người suy giảm khả năng lao động từ 21% đến 40% (bằng 0,76 lần mức chuẩn) sang hưởng mức trợ cấp của người suy giảm khả năng lao động từ 41% đến 60% (bằng 1,27 lần mức chuẩn).
Việc giải quyết truy lĩnh, truy nộp phần chênh lệch trợ cấp được căn cứ vào mức trợ cấp, phụ cấpưu đãi đối với người có công với cách mạng trong từng thời kỳ do Chính phủ quy định. Cụ thể, từ ngày 1/1/2013 đến ngày 30/6/2013 thực hiện theo quy định tại Nghị định số 47/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học tiếp tục hưởng trợ cấp mức 1.840.000 đồng/tháng (theo mức suy giảm khả năng lao động dưới 81%); trong thời gian này không có chênh lệch mức trợ cấp.
Từ ngày 1/7/2013 đến ngày 31/12/2014 thực hiện theo quy định tại Nghị định số 101/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học được hưởng mức trợ cấp mức 1.549.000 đồng/tháng.
Trường hợp đối tượng đã hưởng mức trợ cấp 927.000 đồng/tháng (theo mức của người có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 21%-40%), thì được truy lĩnh phần chênh lệch trợ cấp là 622.000 đồng/tháng. Số tiền được truy lĩnh tương ứng với số tháng thực tế mà đối tượng đã hưởng mức trợ cấp 927.000 đồng/tháng.
Trường hợp đối tượng đã hưởng mức trợ cấp 1.840.000 đồng/tháng theo quy định tại Nghị định số 47/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng, thì phải truy nộp ngân sách nhà nước phần chênh lệch trợ cấp là 291.000 đồng/tháng. Số tiền truy nộp tương ứng với số tháng thực tế mà đối tượng đã hưởng mức trợ cấp 1.840.000 đồng/tháng.
Từ ngày 1/1/2015 trở đi thực hiện theo quy định tại Nghị định số 20/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học được hưởng mức trợ cấp 1.673.000 đồng/tháng.
Trường hợp đối tượng đã hưởng mức trợ cấp 1.001.000 đồng/tháng (theo mức của người có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 21%-40%), thì được truy lĩnh phần chênh lệch trợ cấp là 672.000 đồng/tháng. Số tiền được truy lĩnh tương ứng với số tháng thực tế mà đối tượng đã hưởng mức trợ cấp 1.001.000 đồng/tháng.
Thông tư nêu rõ, trường hợp người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học từ trần trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành: a- Nếu đối tượng được truy lĩnh phần chênh lệch trợ cấp, thì đại diện thân nhân theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP được hưởng truy lĩnh phần chênh lệch trợ cấp theo quy định; b- Trường hợp đối tượng đã hưởng mức trợ cấp cao hơn mức trợ cấp được điều chỉnh theo quy định thì đại diện thân nhân không phải hoàn trả phần chênh lệch trợ cấp.
Sau khi bù trừ số tiền được truy lĩnh và số tiền phải truy nộp ngân sách nhà nước (nếu có), cơ quan LĐ-TB&XH thực hiện thanh toán phần chênh lệch trợ cấp…
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2016.
25. Thông tư 103/2016/TT-BTC hướng dẫn xác định nhu cầu, nguồn và phương thức chi thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở theo Nghị định 47/2016/NĐ-CP của Chính phủ
Thông tư mới cũng sẽ điều chỉnh trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã đã nghỉ việc theo Nghị định55/2016/NĐ-CP của Chính phủ.
Thông tư nêu rõ nguồn kinh phí thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở theo Nghị định số 47/2016/NĐ-CP trong năm 2016 của các bộ, cơ quan Trung ương.
Đối với các cơ quan hành chính nhà nước, Đảng, đoàn thể, nguồn kinh phí gồm: Nguồn thực hiện cải cách tiền lương đến hết năm 2015 chưa sử dụng hết chuyển sang năm 2016 (nếu có); Sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ năm 2016 (phần còn lại sau khi đã sử dụng để thực hiện các nghị định về điều chỉnh mức lương cơ sở, phụ cấp từ năm 2011 đến nay); Sử dụng tối thiểu 40% số chênh lệch thu, chi từ hoạt động dịch vụ (sau khi đã thực hiện các khoản nộp ngân sách nhà nước theo quy định).
Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, nguồn kinh phí gồm: Nguồn thực hiện cải cách tiền lương đến hết năm 2015 chưa sử dụng hết chuyển sang năm 2016 (nếu có); sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ năm 2016 (phần còn lại sau khi đã sử dụng để thực hiện các nghị định về điều chỉnh mức lương cơ sở, phụ cấp từ năm 2015 trở về trước).
Riêng ngành y tế sử dụng tối thiểu 35% số thu được để lại theo chế độ (sau khi trừ chi phí thuốc, máu, dịch truyền, hóa chất, vật tư thay thế, vật tư tiêu hao trực tiếp phục vụ cho người bệnh và tiền lương, phụ cấp đã kết cấu trong giá dịch vụ; số thu đã sử dụng để thực hiện các nghị định về tiền lương, phụ cấp từ năm 2015 trở về trước)...
Thông tư cũng quy định rõ nguồn kinh phí thực hiện Nghị định số 47/2016/NĐ-CP Nghị định số 55/2016/NĐ-CP trong năm 2016 của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Cụ thể nguồn kinh phí gồm: Sử dụng nguồn tiết kiệm 10% chi thường xuyên dự toán năm 2016 tăng thêm so với dự toán năm 2015 (trừ các khoản tiền lương, các khoản có tính chất lương) theo Quyết định giao dự toán của Bộ Tài chính; Sử dụng nguồn tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên dự toán năm 2016 (trừ các khoản tiền lương, các khoản có tính chất lương) theo Quyết định giao dự toán của Bộ Tài chính; nguồn kinh phí thực hiện cải cách tiền lương năm 2015 chưa sử dụng hết chuyển sang (nếu có); nguồn còn dư (nếu có) sau khi đảm bảo nhu cầu tiền lương, các khoản phụ cấp theo lương theo các nghị định của Chính phủ về điều chỉnh tiền lương cơ sở, phụ cấp từ năm 2011 đến nay và điều chỉnh tiền lương tăng thêm đối với đối tượng có hệ số lương từ 2,34 trở xuống trong 4 tháng đầu năm 2016 theo chế độ quy định.
Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tự cân đối thu chi ngân sách địa phương, dư nguồn thực hiện cải cách tiền lương (ngân sách trung ương không bổ sung tiền lương trong giai đoạn 2011-2015) và cam kết đảm bảo nguồn kinh phí để thực hiện cải cách tiền lương tăng thêm theo lộ trình do cơ quan có thẩm quyền quyết định, thì UBND cấp tỉnh được quyết định tỷ lệ trích nguồn thu được để lại theo chế độ để tạo nguồn cải cách tiền lương đối với các cơ quan, đơn vị có số thu sự nghiệp lớn trên địa bàn cho phù hợp (đảm bảo các cơ quan, đơn vị này phải tự sắp xếp bố trí nguồn để thực hiện cải cách tiền lương theo lộ trình do cơ quan có thẩm quyền quyết định). Ngân sách trung ương không bổ sung kinh phí để cải cách tiền lương cho các địa phương này.
Đối với các địa phương nghèo, ngân sách khó khăn; sau khi sử dụng các nguồn theo quy định mà vẫn thiếu nguồn thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở năm 2016, ngân sách trung ương bổ sung số thiếu cho địa phương để thực hiện.
Trường hợp số bổ sung từ ngân sách trung ương để thực hiện cải cách tiền lương đã bố trí trong dự toán chi ngân sách địa phương năm 2016 cao hơn số bổ sung chính thức sau khi thẩm định nhu cầu và nguồn thực hiện cải cách tiền lương năm 2016, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện hoàn trả ngân sách trung ương phần chênh lệch lớn hơn.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2016.
 
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Tin mới





















 

Thăm dò ý kiến

Đánh giá thái độ phục vụ của công chức Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ

Thoải mái, dễ chịu, vui vẻ

Hướng dẫn tận tình, chu đáo

Hướng dẫn thờ ơ, qua loa

Ý kiến khác

Phóng sự giao trả hồ sơ tận nhà trên lĩnh vực Hộ tịch