Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng nhì


UBND xã  Tam Ngọc dẫn đầu phong trào thi đua năm 2017

UBND xã Tam Thanh dẫn đầu phong trào thi đua Quý 1 năm 2018





















 

:::Thống kê:::

  • Đang truy cập: 33
  • Khách viếng thăm: 31
  • Máy chủ tìm kiếm: 2
  • Hôm nay: 2230
  • Tháng hiện tại: 252546
  • Tổng lượt truy cập: 9897696

BẢN TIN PHÁP LUẬT TUẦN 43

Đăng lúc: Thứ ba - 08/11/2016 10:39
BẢN TIN PHÁP LUẬT TUẦN 43
Tổng hợp các văn bản được ban hành từ ngày 31/10 đến 04/11/2016
Biên soạn: Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ
Website: http://tuphaptamky.gov.vn
***
1. Các biện pháp thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ và cơ khí chế tạo
Ngày 02/11/2016, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 297/NQ-UBTVQH14 về nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển khoa học, công nghệ nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 2015 - 2020, trong đó chú trọng đẩy mạnh công nghiệp hỗ trợ và cơ khí chế tạo.
Các giải pháp nhằm thúc đẩy ngành công nghiệp hỗ trợ và cơ khí chế tạo được đề ra như sau: Năm 2017, rà soát để sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công nghiệp hỗ trợ và cơ khí chế tạo; đề xuất giải pháp nâng cao vai trò quản lý Nhà nước đủ mạnh để quản lý về cơ khí chế tạo và công nghiệp hỗ trợ. Tạo cơ chế để các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chuyển giao công nghệ, triển khai hoạt động thiết kế và chế tạo tại Việt Nam, giảm gia công, lắp ráp và sử dụng nhiều lao động.
Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù cho hoạt động nghiên cứu trong một số lĩnh vực công nghệ, sản phẩm mũi nhọn; lựa chọn ngành và lĩnh vực sản phẩm để phát triển theo lộ trình. Chỉ đạo các doanh nghiệp Nhà nước đi tiên phong trong việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ quy mô lớn, các sản phẩm quốc gia thuộc lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và cơ khi chế tạo; chú trọng xây dựng các cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong lĩnh vực này.
Đặc biệt, ưu tiên sử dụng sản phẩm được tạo ra trong nước trong đầu tư mua sắm công liên quan đến lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và cơ khí chế tạo. Đầu tư phát triển có trọng tâm, trọng điểm một số phòng thí nghiệm chuyên ngành thuộc các lĩnh vực công nghiệp cơ khí chủ lực.
Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
2. Chào bán cổ phiếu riêng lẻ không đúng thời gian, phạt đến 100 triệu
Đây là một trong những nội dung mới đáng chú ý tại Nghị định số 145/2016/NĐ-CP ngày 01/11/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 108/2013/NĐ-CP ngày 23/09/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Cụ thể, từ ngày 15/12/2016, tổ chức thực hiện chào bán cổ phiếu riêng lẻ không đúng thời gian quy định hoặc không thực hiện mở tài khoản phong tỏa tại ngân hàng thương mại; không chuyển số tiền thu được từ đợt chào bán vào tài khoản phong tỏa; giải tỏa hoặc sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán trước khi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có thông báo bằng văn bản về việc xác nhận kết quả chào bán sẽ bị phạt tiền từ 70 - 100 triệu đồng. Mức phạt tiền từ 70 - 100 triệu đồng này cũng được áp dụng với hành vi không nộp hoặc nộp hồ sơ đăng ký công ty đại chúng quá thời hạn quy định trên 36 tháng; hành vi đăng ký giao dịch, niêm yết chứng khoán quá thời thời hạn từ trên 03 tháng đến 06 tháng.
Với hành vi không công bố báo cáo sử dụng vốn được kiểm toán xác nhận tại Đại hội đồng cổ đông hoặc không thuyết minh chi tiết việc sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán cổ phiếu riêng lẻ trong báo cáo tài chính năm được kiểm toán xác nhận, trừ trường hợp chào bán cổ phiếu để hoán đổi các khoản nợ hoặc hoán đổi cổ phần, phần vốn góp, mức phạt dao động từ 50 - 70 triệu đồng.
Cũng từ ngày 15/12/2016, tổ chức có hành vi làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán cổ phiếu riêng lẻ mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị phạt tiền từ 400 - 700 triệu đồng. Với hành vi làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán chứng khoán ra công chúng mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, mức phạt tiền từ 1% - 5% tổng số tiền đã huy động trái pháp luật. Đặc biệt, tổ chức có hành vi tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán trái quy định pháp luật trong trường hợp không có khoản thu trái pháp luật sẽ bị phạt từ 1 - 1,2 tỷ đồng, trong khi mức phạt cũ dao động từ 1,8 - 2 tỷ đồng.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/12/2016.
3. DN phải kê khai, niêm yết giá dịch vụ tại cảng biển
Ngày 02/11/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 146/2016/NĐ-CP quy định việc niêm yết giá, phụ thu ngoài giá dịch vụ vận chuyển hàng hóa công-te-nơ bằng đường biển, giá dịch vụ tại cảng biển, yêu cầu doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển hoặc đại lý, doanh nghiệp được ủy quyền và doanh nghiệp cảng biển phải niêm yết giá vận chuyển hàng hóa công-te-nơ bằng đường biển và giá dịch vụ tại cảng biển.
Trong đó, nội dung niêm yết giá vận chuyển bằng đường biển, phụ thu bao gồm: Điểm đi và điểm đến của tuyến vận tải; Danh mục và mức giá dịch vụ vận chuyển bằng đường biển, phụ thu tương ứng với tuyến đường vận chuyển và loại hàng hóa được vận chuyển, mức giá niêm yết đã bao gồm giá dịch vụ liên quan phát sinh và các loại thuế, phí, lệ phí (nếu có); Tên doanh nghiệp, địa chỉ giao dịch, số điện thoại, số fax, địa chỉ trang thông tin điện tử của doanh nghiệp. Nội dung niêm yết giá dịch vụ tại cảng biển bao gồm: Tên, địa chỉ giao dịch, số điện thoại, số fax, địa chỉ trang thông tin điện tử của doanh nghiệp cảng biển; Biểu giá dịch vụ tại cảng của doanh nghiệp đã thực hiện kê khai giá với cơ quan có thẩm quyền (giá niêm yết đã bao gồm các loại thuế, phí, lệ phí).
Về hiệu lực của việc niêm yết giá, Nghị định quy định, giá vận chuyển bằng đường biển, phụ thu có hiệu lực từ ngày doanh nghiệp niêm yết lần đầu tiên; giá dịch vụ tại cảng biển có hiệu lực từ ngày doanh nghiệp hoàn thành kê khai và niêm yết giá. Trường hợp thay đổi theo hướng tăng giá vận chuyển bằng đường biển, tăng phụ thu đã được niêm yết, ngày hiệu lực của giá vận chuyển bằng đường biển hoặc phụ thu do doanh nghiệp quy định, nhưng không sớm hơn 15 ngày liên tục kể từ ngày niêm yết sự thay đổi.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2017.
4. Tăng mức chi trả tiền DV môi trường rừng với cơ sở sản xuất thủy điện
Ngày 02/11/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 147/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/09/2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Trong đó, đáng chú ý là quy định tăng mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng áp dụng đối với các cơ sở sản xuất thủy điện lên 36 đồng/kWh điện thương phẩm thay vì mức 20 đồng/kWh điện thương phẩm như trước. Như vậy, số tiền phải chi trả dịch vụ môi trường rừng trong kỳ hạn thanh toán cũng được tăng lên theo mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, bằng sản lượng điện trong kỳ hạn thanh toán (kWh) nhân với mức chi trả tính trên 01 kWh (36 đồng/kWh).
Tương tự, mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng áp dụng đối với các cơ sở sản xuất và cung cấp nước sạch cũng tăng từ 40 đồng/m3 nước thương phẩm lên 52 đồng/m3 nước thương phẩm từ ngày 01/01/2017. Theo đó, số tiền phải chi trả dịch vụ môi trường rừng trong kỳ hạn thanh toán sẽ được xác định bằng sản lượng nước thương phẩm trong kỳ hạn thanh toán (m3) nhân với mức chi trả dịch vụ môi trường rừng tính trên 01 m3 nước thương phẩm (52 đồng/m3).
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017.
5. Thí điểm hỗ trợ một lần sau đầu tư phát triển thủy sản
Ngày 31/10/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 47/2016/QĐ-TTg về thí điểm cơ chế hỗ trợ một lần sau đầu tư theo quy định tại Nghị định số 89/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/07/2014 của Chính phủ về chính sách phát triển thủy sản.
Trong đó, mức hỗ trợ đóng mới tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ, bao gồm cả máy móc, trang thiết bị hàng hải, máy móc thiết bị bảo quản hải sản, máy móc, trang thiết bị bảo quản hàng hóa, trang thiết bị bốc xếp hàng hóa là 35% tổng giá trị đầu tư đóng mới, tối đa 08 tỷ đồng/tàu với tàu vỏ thép có công suất máy chính từ 800CV đến dưới 1.000CV hoặc 9,8 tỷ đồng/tàu với tàu vỏ thép có tổng công suất máy chính từ 1.000CV trở lên. Tương tự, chủ tàu đóng mới khai thác hải sản xa bờ sẽ được hỗ trợ 35% tổng giá trị đầu tư đóng mới tàu cá, nhưng không quá 6,7 tỷ đồng/tàu với tàu vỏ thép có công suất máy chính từ 800CV đến dưới 1.000CV và tàu cá vỏ composit có tổng công suất máy chính từ 800CV trở lên; 08 tỷ đồng/tàu với tàu vỏ thép có tổng công suất máy chính từ 1.000CV trở lên; 03 tỷ đồng/tàu với trường hợp đóng mới tàu cá vỏ gỗ có tổng công suất máy chính từ 800CV trở lên.
Để được hưởng mức hỗ trợ một lần như trên, tàu cá đóng mới phải sử dụng máy thủy mới; chủ tàu phải là thành viên của tổ đội, hợp tác xã, doanh nghiệp khai thác hải sản; tàu phải lắp đặt thiết bị thông tin có khả năng định vị kết nối với trạm bờ để quản lý quan sát hành trình và tàu phải có Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật tàu cá, Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá và Giấy phép khai thác thủy sản theo quy định… Đặc biệt, chỉ hỗ trợ sau đầu tư với tàu đóng mới đã hoàn thành là tàu khai thác hải sản xa bờ vỏ thép, vỏ vật liệu mới, vỏ gỗ và tàu dịch vụ hậu cần vỏ thép, có tổng công suất máy chính từ 800CV trở lên.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/12/2016.
6. Nguyên tắc phân bổ ngân sách thuộc Chương trình giảm nghèo
Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách Trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 30/10/2016 kèm theo Quyết định số 48/2016/QĐ-TTg.
Trong đó, đáng chú ý là quy định về nguyên tắc phân bổ vốn ngân sách Trung ương thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020. Cụ thể, việc phân bổ vốn đầu tư phát triển và kinh phí sự nghiệp nguồn ngân sách Nhà nước thuộc Chương trình phải tuân thủ các quy định của pháp luật; bảo đảm quản lý tập trung, thống nhất về mục tiêu, cơ chế, chính sách; thực hiện phân cấp trong quản lý đầu tư, tạo quyền chủ động cho các Bộ, ngành Trung ương và các cấp chính quyền địa phương; bảo đảm công khai, minh bạch trong việc phân bổ vốn kế hoạch, góp phần đẩy mạnh cải cách hành chính và tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Đặc biệt, ưu tiên bố trí vốn cho các vùng miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, góp phần thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, thu nhập và mức sống của dân cư giữa các vùng, miền trong cả nước.
Việc phân bổ vốn đầu tư phát triển và kinh phí sự nghiệp cho các địa phương dựa trên 04 tiêu chí: Tiêu chí dân số và dân tộc thiểu số; Tiêu chí tỷ lệ hộ nghèo và quy mô hộ nghèo; Tiêu chí diện tích đất tự nhiên; Tiêu chí về đơn vị hành chính và các huyện có xã biên giới.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/12/2016; áp dụng cho các năm ngân sách giai đoạn 2017 - 2020.
7. Điều kiện chuyển đổi mục đích sử dụng rừng
Ngày 01/11/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 49/2016/QĐ-TTg ban hành Quy chế quản lý rừng sản xuất.
Theo đó, điều kiện để chuyển mục đích sử dụng rừng sản xuất thành rừng đặc dụng hoặc rừng phòng hộ phải đảm bảo tiêu chí, chỉ số cho phép công nhận của từng loại rừng và thực hiện theo quy định. Với chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác không phải lâm nghiệp, phải có dự án đầu tư trên diện tích rừng chuyển đổi mục đích sử dụng; có báo cáo đánh giá tác động môi trường do việc chuyển mục đích sử dụng rừng hoặc kế hoạch bảo vệ môi trường; có phương án đền bù giải phóng mặt bằng khu rừng chuyển đổi mục đích sử dụng và phương án trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích khác được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc chứng từ nộp tiền trồng rừng thay thế vào Quỹ bảo vệ phát triển rừng của Trung ương hoặc địa phương. Đặc biệt, không thực hiện chuyển mục đích sử dụng rừng tự nhiên sang mục đích khác, kể cả các dự án, công trình đã được phê duyệt nhưng chưa triển khai, trừ các dự án phục vụ quốc phòng, an ninh phải được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên.
Cũng theo Quyết định này, chủ rừng sản xuất là rừng tự nhiên có trữ lượng giàu và trung bình được Nhà nước giao hoặc cho thuê, chưa có phương án quản lý rừng bền vững, có Bảng kê khai lâm sản khai thác sẽ được khai thác gỗ rừng sản xuất phục vụ cho nhu cầu thiết yếu, tại chỗ với khối lượng khai thác tối đa 10m3 gỗ tròn/hộ/lần. Trong đó, việc khai thác gỗ phải được UBND cấp xã hoặc cấp huyện phê duyệt (đối với khai thác trên diện tích rừng Nhà nước chưa giao, chưa cho thuê).
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/12/2016.
8. Tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn
Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số 50/2016/QĐ-TTg ngày 03/11/2016 về tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016 - 2020.
Theo Thông tư này, thôn đặc biệt khó khăn là thôn có 1 trong 2 tiêu chí: Tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 65% trở lên (trong đó tỷ lệ hộ nghèo từ 35% trở lên) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020; Tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 55% trở lên (các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long từ 30% trở lên) và có 2 trong 3 yếu tố: Trục chính đường giao thông thôn hoặc liên thôn chưa được cứng hóa theo tiêu chí nông thôn mới; Từ 60% trở lên số phòng học cho lớp mẫu giáo chưa được kiên cố; Chưa có Nhà văn hóa - Khu thể thao theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Với các thôn có số hộ dân tộc thiểu số từ 80% trở lên, cần có 01 trong 03 yếu tố này).
Về tiêu chí xác định xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (xã khu vực III) thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi, Quyết định chỉ rõ: Xã khu vực III là xã có ít nhất 2 trong 3 tiêu chí: Số thôn đặc biệt khó khăn còn từ 35% trở lên; Tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 65% trở lên; Tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 55% trở lên và có 3 trong số các tiêu chí như: Trục chính đường giao thông đến UBND xã hoặc đường liên xã chưa được nhựa hóa, bê tông hóa theo tiêu chí nông thôn mới; Trường mầm non, trường tiểu học hoặc trường trung học cơ sở chưa đạt chuẩn quốc gia; Chưa có Trung tâm Văn hóa, Thể thao xã; Còn từ 40% số hộ trở lên chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh…
Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 20/12/2016.
9. Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, Khung trình độ quốc gia Việt Nam
Quyết định số 1981/QĐ-TTg ngày 18/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân. Theo Quyết định, Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên.
Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: Giáo dục mầm non gồm giáo dục nhà trẻ và giáo dục mẫu giáo; Giáo dục phổ thông gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở và giáo dục trung học phổ thông; Giáo dục nghề nghiệp đào tạo các trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng; Giáo dục đại học đào tạo các trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ.
Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam với cấu trúc gồm 8 bậc trình độ: Bậc 1- Sơ cấp I; Bậc 2 - Sơ cấp II; Bậc 3 - Sơ cấp III, Bậc 4 - Trung cấp; Bậc 5 - Cao đẳng; Bậc 6 - Đại học; Bậc 7 - Thạc sĩ; Bậc 8 - Tiến sĩ.
10. Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản công
Tại Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 2/11/2016 về tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản công, Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành các quy định cụ thể về tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng đối với tài sản công tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị theo hướng hạn chế việc trang bị bằng hiện vật, chuyển dần sang cơ chế khoán có tính chất bắt buộc, thực hiện phương thức thuê dịch vụ và Nhà nước đặt hàng; xác định cụ thể từng đối tượng được trang bị tài sản; đồng thời xác định công năng sử dụng của tài sản để trang bị cho nhiều đối tượng dùng chung phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và thực tế ở từng cơ quan, tổ chức, đơn vị, tránh lãng phí trong việc trang bị, mua sắm tài sản.
Bộ Tài chính khẩn trương trình Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quyết định số 32/2015/QĐ-TTg ngày 4/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó sửa đổi đơn giá khoán kinh phí sử dụng xe ô tô phù hợp cho từng nhóm chức danh có tiêu chuẩn sử dụng và định mức xe ô tô phục vụ công tác chung; phấn đấu đến năm 2020 giảm khoảng từ 30% - 50% số lượng xe ô tô phục vụ công tác chung đang được trang bị cho các Bộ, ngành, địa phương, trừ các đơn vị thuộc địa bàn miền núi, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn; đồng thời xác định lộ trình thực hiện chế độ khoán kinh phí sử dụng xe ô tô áp dụng đối với chức danh thứ trưởng và tương đương, xe ô tô phục vụ công tác chung.
11. Tăng cường quản lý bán hàng đa cấp
Tại Chỉ thị 30/CT-TTg ngày 31/10/2016 về việc tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm theo quy định các doanh nghiệp kinh doanh theo phương thức đa cấp chưa được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp; thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm (nếu có) về việc đáp ứng điều kiện kinh doanh các mặt hàng của doanh nghiệp đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp thuộc thẩm quyền quản lý do pháp luật quy định; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm, các hoạt động khuyến mại, quảng cáo, hội nghị, hội thảo, tuyên truyền về các sản phẩm được phép kinh doanh theo phương thức đa cấp thuộc phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định.
12. Phòng ngừa, ngăn chặn các vụ cháy tại nơi có nguy cơ cháy cao
Tại công điện 1926/CĐ-TTg ngày 2/11/2016 về việc tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương huy động lực lượng, phương tiện triển khai đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn các vụ cháy tại nơi có nguy cơ cháy cao, như: Khu công nghiệp, chợ, trung tâm thương mại, nhà cao tầng, nhà liền kề, cơ sở kinh doanh dịch vụ giải trí…, nhất là thời điểm từ nay đến Tết Nguyên đán 2017. Nơi nào, địa phương nào để xảy ra cháy phức tạp, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản thì thủ trưởng bộ, ngành, địa phương nơi đó chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ và trước pháp luật.
13. 10 Điều kiện nuôi con bằng sữa mẹ tại cơ sở y tế
Đây là một trong những quy định được nêu tại Thông tư số 38/2016/TT-BYT ngày 31/10/2016 của Bộ Y tế quy định một số biện pháp thúc đẩy việc nuôi con bằng sữa mẹ tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Theo đó, “10 điều kiện nuôi con bằng sữa mẹ” tại các cơ sở khám, chữa bệnh bao gồm: Có bản quy định về việc thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ; Tổ chức đào tạo cho cán bộ y tế những kỹ năng cần thiết để thực hiện quy định nuôi con bằng sữa mẹ; Thông tin cho phụ nữ có thai về lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ; Giúp các bà mẹ cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh, bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, cho trẻ bú mẹ kéo dài đến 24 tháng tuổi hoặc lâu hơn; Hướng dẫn cho các bà mẹ cách cho trẻ bú và duy trì nguồn sữa mẹ; Không nuôi dưỡng trẻ dưới 6 tháng tuổi bằng thức ăn, nước uống ngoài sữa mẹ, trừ khi có chỉ định của y tế; Thực hiện mẹ và con ở cùng nhau để con gần mẹ suốt 24 giờ trong thời gian sau sinh; Khuyến khích cho trẻ được bú theo nhu cầu; Không cho trẻ nhỏ đang bú mẹ sử dụng bình vú hoặc vú ngậm nhân tạo; Khuyến khích thành lập nhóm hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ và giới thiệu bà mẹ tham gia nhóm sau khi họ ra viện.
Việc tổ chức thực hiện “10 điều kiện nuôi con bằng sữa mẹ” tại các cơ sở khám, chữa bệnh được quy định như sau: Ban hành quy định về việc thực hiện “Mười điều kiện nuôi con bằng sữa mẹ” tại cơ sở khám, chữa bệnh bằng ngôn ngữ thông dụng và được phổ biến thường xuyên cho thầy thuốc, nhân viên y tế; Niêm yết công khai bản quy định tại phòng khám thai, phòng chờ sinh, phòng sau sinh, phòng tư vấn dinh dưỡng…; Khoa sản, khoa nhi phải tổ chức hướng dẫn cho phụ nữ mang thai, các bà mẹ sau sinh, các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi cách cho trẻ bú đúng, vắt sữa, bảo quản sữa mẹ và duy trì nguồn sữa mẹ…
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017.
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Tin mới


Tuyên truyền pháp luật




















 

Thăm dò ý kiến

Đánh giá thái độ phục vụ của công chức Phòng Tư pháp thành phố Tam Kỳ

Thoải mái, dễ chịu, vui vẻ

Hướng dẫn tận tình, chu đáo

Hướng dẫn thờ ơ, qua loa

Ý kiến khác

Phóng sự giao trả hồ sơ tận nhà trên lĩnh vực Hộ tịch